(Bài viết của ông Cao Xuân Xảo, được hoàn thành năm 2022. Bài viết này theo quan điểm riêng của tác giả, các dẫn chứng lịch sử có thể chưa được kiểm chứng. Nên người đọc cần cẩn trọng khi trích dẫn).
LỜI NÓI ĐẦU
Trước khi viết cuốn sách “Làng Tả Phan” thân yêu, tôi cũng rất băn khoăn, lo lắng không biết lấy tư liệu lịch sử ở đâu ra để viết. Nếu không viết thì con cháu sau này, không biết gì về nguồn gốc tổ tông của cha ông mình sinh ra từ đâu và ở đâu đến đây khai khẩn, làm ăn đầu tiên. Trong tình cảnh ấy, buộc tôi phải mạnh dạn viết cuốn sách về “Làng Tả Phan”. Con người ta sinh ra phải có tổ, có tông và phải biết nguồn gốc lai lịch của mình từ đâu ra, ví như cây có cội, nước có nguồn. Tục ngữ có câu:“Chim có tổ, người có tông”. Nếu không biết tổ tông ra sao thì cũng giống như chim không có tổ, nước không có nguồn vậy. Tổ tiên ta đến đây lập làng có từ bao giờ ? Và nguồn gốc của tổ tiên ở từ đâu đến ? Đó là những câu hỏi mà con cháu hiện nay vẫn băn khoăn, day dứt, chưa có lời giải đáp một cách thỏa đáng. Nhưng khi viết cuốn“Làng Tả Phan”, tôi đã dày công tìm tòi, nghiên cứu rất nhiều tài liệu khác nhau để biết được ngọn nguồn, gốc tích cha ông ta từ đâu đến và ai là người khai khẩn mảnh đất này đầu tiên. Khi viết tôi cũng rất thận trọng, chọn lọc những chi tiết tiêu biểu nhất, quý giá nhất để đưa vào cuốn sách của mình. Những chi tiết nào cảm thấy chưa thỏa đáng thì gạt ra một bên để cho cuốn sách có độ tin cậy, chính xác cao hơn.
Rất may mắn cho tôi là tôi có được một tư liệu hết sức quý giá mà trước khi qua đời cậu tôi đã để lại cho tôi. Cậu tôi là ông Lê Văn Hách – người đã viết ba tập thơ rất hay với trên 4000 câu và hai tập hồi ký, truyện ngắn. Cậu tôi cũng đã sưu tầm một số tư liệu về thời Trịnh – Nguyễn phân tranh làm thành một tập sách quý giá. Cậu tôi còn là một dịch giả đã từng dịch thơ chữ Hán ra tiếng Việt, dịch các tài liệu bằng tiếng Pháp ra tiếng Việt. Đó là cuốn sách một thiên hồi ký với chủ đề “Làng tôi” được viết bằng thơ lục bát. Dựa vào tập thơ đó, tôi đã viết ra cuốn sách “Làng Tả Phan” để sau này, con cháu có một cách nhìn toàn diện đúng đắn về nguồn gốc làng mình.
Tôi viết cuốn sách này như là một món quà quý giá tặng cho bà con làng Tả Phan thân yêu. Nếu có gì còn thiếu sót mong các bạn hãy nhiệt tình góp ý một cách chân thực và thẳng thắn để những lần xuất bản sau được chỉnh sửa cẩn thận hơn. Rất trân trọng cảm ơn !
Tác giả Cao Xuân Xảo
LÀNG TẢ PHAN
“Tả Phan mảnh đất quê hương,
Bao đời gắn bó tình thương mặn nồng.
Chiều quê hương lúa thơm nồng,
Hoàng hôn trải nắng mênh mông đất trời”.
Những câu thơ dạt dào cảm xúc, thấm đẫm tình người của nhà thơ Cao Xuân Lộc đã làm cho tôi nhớ đến một làng quê nghèo khổ đã nuôi tôi khôn lớn thành người. Nơi ấy, có những cánh đồng lúa xanh bát ngát chân trời, cò bay thẳng cánh. Nơi ấy, khi hoàng hôn buông xuống, vài tia nắng cuối ngày còn vương trên những cành cây ngọn cỏ, những chú mục đồng lùa đàn trâu ra sông ngâm mình, tắm mát. Khói lam chiều vờn bay trên những mái nhà thân thương, trìu mến. Đêm về, khi vầng trăng tròn vành vạnh treo vắt vẻo trên ngọn tre, soi bóng xuống dòng sông lấp lánh, mặt nước gợn sóng lung linh, dòng sông như được dát một lớp bạc óng ánh. Cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp đến mê hồn. Đó là làng Tả Phan, xã Duy Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Từ thành phố Đồng Hới đi vào khoảng 15 km, là sẽ gặp một ngôilàng nhỏ nhắn, xinh đẹp và đầy thơ mộng. Một ngôi làng đã lưu giữ được những nét đẹp truyền thống bình dị, gần gũi mà mộc mạc thân thương trong văn hóa Việt Nam. Ngôi làng nằm nép mình bên một con sông nhỏ đã bị bồi lấp thành rào hói, ao hồ. Dưới bóng tre của ngàn xưa, thấp thoáng những mái nhà ngói mới nguy nga, tráng lệ. Trên con đường dẫn vào làng, có hàng rào được xây bằng gạch đá uốn lượn theo đường làng, ngõ xóm và lối đi vào từng nhà. Bên trong những hàng cây xanh, sau bức bình phong là những tường xây khang trang, đẹp đẽ, là hoành phi, câu đối, cho đến các đồ dùng như sập gụ, tủ chè, trường kỷ, phản nằm; các bàn thờ, bệ thờ… đều được chạm khắc kỹ lưỡng, tinh xảo không thua kém gì các kiến trúc gỗ ở Hoàng cung triều Nguyễn. Chứng tỏ người dân làng Tả Phan có đầu óc thẩm mỹ hết sức tuyệt vời từ hàng trăm năm nay.
Đến làng Tả Phan, bạn có thể tận hưởng cảm giác mỗi buổi sáng thức dậy tại một ngôi nhà xinh đẹp, đi dạo một vòng quanh làng và nghe tiếng chim hót véo von trên những ngọn cây cao vút, bạn sẽ cảm thấy dường như mọi bộn bề lo toan trong cuộc sống đều được tan biến hết.
Vậy, làng Tả Phan có tự bao giờ ? Ai là người đến đây lập làng đầu tiên ? Đó là những câu hỏi làm băn khoăn, day dứt không biết bao nhiêu đời trong làng Tả Phan mà vẫn chưa có câu trả lời một cách thấu đáo.
Trước đây, trong các cuốn Gia phả họ Lê, Phan đều được viết bằng chữ Hán rồi các cụ nhờ người dịch lại sang tiếng Việt cho con cháu dễ đọc, dễ biết hơn. Tuy nhiên, một số từ Hán trong Gia phả các cụ dịch không chuẩn xác gây hiểu lầm cho con cháu sau này. Trong các cuốn Gia phả có cuốn ghi rõ năm sinh và năm mất nhưng có cuốn không ghi năm sinh và năm mất một cách cụ thể, rõ ràng. Cho nên con cháu không biết đâu mà lần.
Khi viết cuốn “Làng Tả Phan”, tôi đã dày công tìm tòi, nghiên cứu rất nhiều tài liệu khác nhau để biết được ngọn nguồn, gốc tích của làng từ đâu mà có và ai đã đến đây lập nghiệp đầu tiên. Đặc biệt, tôi rất may mắn có được một cuốn tư liệu hết sức quý giá mà cậu tôi đã để lại cho tôi. Cậu tôi là ông Lê Văn Hách – người đã viết ba tập thơ với trên 4000 câu và một tập hồi ký, truyện ngắn. Cậu tôi cũng đã sưu tầm một số tư liệu về thời Trịnh – Nguyễn phân tranh làm thành một tập sách quý giá. Cậu tôi còn là một dịch giả đã từng dịch thơ chữ Hán ra tiếng Việt, dịch các tài liệu bằng tiếng Pháp ra tiếng Việt. Đó là cuốn sách một thiên hồi ký với chủ đề “Làng tôi” được viết bằng thơ lục bát. Dựa vào tập thơ đó, tôi đã viết ra cuốn sách “Làng Tả Phan” để sau này, con cháu có một cách nhìn toàn diện đúng đắn về nguồn gốc làng mình.
- Vài nét sơ lược về lịch sử
Năm 1069, để phá tan âm mưu cấu kết giữa quân xâm lược nhà Tống và Chiêm Thành, một đạo quân Đại Việt do Lý Thánh Tông cầm đầu và tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy, đã tiến đánh vào tận kinh thành Chăm-pa, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Để chuộc tội, vua Chiêm cắt dâng 3 châu: Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý (gồm Quảng Bình – Quảng Trị) cho nhà Lý. Quảng Bình trở về với cội nguồn Đại Việt từ đó. Đây là mốc lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vùng đất Quảng Bình nói riêng và quốc gia Đại Việt nói chung. Đánh dấu việc mở đầu cho công cuộc mở rộng lãnh thổ về phương Nam. Lý Thường Kiệt có nhiều đóng góp trong việc khai canh mở cõi, xứng đáng được ghi danh là bậc tinh anh, hiền tài khai khẩn vùng đất Quảng Bình.
Năm 1075, Lý Thường Kiệt đổi tên Châu Bố Chinh thành Châu Bố Chính, Châu Địa Lý thành Châu Lâm Bình. Mảnh đất Quảng Bình từ đó chính thức được đưa vào bản đồ nước ta. Chính Lý Thường Kiệt là người có công đầu xác định và đặt nền móng đầu tiên của vùng đất Quảng Bình trọn vẹn cương vực lãnh thổ như ngày nay.
Đến thời Nguyễn Hoàng (1558 – 1604) vùng đất Bắc sông Gianh gọi là xứ Đàng Ngoài, vùng Nam sông Gianh gọi là xứ Đàng Trong. Năm 1605 Nguyễn Hoàng đổi Châu Bố Chính thành phủ Quảng Bình, cái tên Quảng Bình có từ đó.
Kế tục sự nghiệp của Lý Thường Kiệt, dưới các triều đại Trần, Lê, nhiều danh nhân đã có công tiếp tục khai mở đất đai, lập ấp, phát triển các cộng đồng làng xã của quê hương Quảng Bình, đó là danh tướng Trần Bang Cẩn. Vâng lệnh triều đình, ông thống lĩnh một đạo quân vào phía Nam của quốc gia Đại Việt. Tại đây, vùng đất hai bờ hạ lưu sông Gianh, sau khi đánh thắng nhiều trận và dẹp yên quân Chiêm Thành, ông đã tụ tập dân binh, chiêu dân, hướng dẫn khai phá đất đai, lập ra hai xứ Đông, Đoài của xã Quảng Lộc và một phần xã Quảng Hòa, huyện Quảng Trạch.
Đó là Hồ Cưỡng – vị tướng tài, đánh giặc nhiều nơi, thắng nhiều trận giòn giã ở cửa sông Nhật Lệ, Bàu Tró, Phú Hội… Nơi đây, ông đã chiêu dân lập ấp, khai khẩn đất đai, mở mang sản xuất và đã trở thành thần tổ họ Hồ khai canh vùng Lý Trạch, Nhân Trạch, Nam Trạch của huyện Bố Trạch.
Nổi bật là Hoàng Hối Khanh, tuy xuất thân là một Tiến sĩ, một quan văn, một tướng lĩnh nhưng ông luôn quan tâm đến các vấn đề phát triển kinh tế – xã hội. Với tư cách là một quan lại tại địa phương Quảng Bình thời nhà Trần, ông đã có những chính sách phát triển kinh tế vùng đất này bằng mô hình điền trang và góp phần cho vùng đất Lệ Thủy có điều kiện phát triển về mọi mặt. Đồng hành cùng hoạt động mở mang lãnh thổ, việc bảo vệ củng cố an ninh – quốc phòng cho vùng đất mới không kém phần quan trọng. Dưới các triều đại Trần, Lê, Nguyễn, nhiều danh nhân đã có công tiếp tục khai mở và giữ vững vùng đất Quảng Bình. Đó là danh nhân Đào Duy Từ – người đã giúp chúa Nguyễn vạch ra nhiều kế sách quân sự quan trọng để đối phó có hiệu quả từ chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đặc biệt là tổ chức xây dựng hệ thống lũy Đào Duy Từ với các lũy Nhật Lệ, Trường Dục. Đây là công trình quân sự góp phần quan trọng giúp chúa Nguyễn đẩy lùi những cuộc tấn công xâm lấn của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, giữ yên bờ cõi Đàng Trong.
Tiếp nối công lao Đào Duy Từ, danh tướng Nguyễn Hữu Dật được chúa Nguyễn giao trọng trách trông coi xây đắp thành lũy và sau này ông lại là người hiến kế để bổ sung, hoàn thiện hệ thống chiến lũy đủ sức chống đỡ mọi cuộc tấn công của kẻ thù. Lũy Trường Dục dài 2.500 trượng, tức khoảng 10km, chạy từ chân núi Thần Đinh dọc theo hữu ngạn sông Rào Đá (Long Đại) đến ngã ba sông Nhật Lệ, men theo bờ Nam qua các làng Xuân Dục, Cổ Hiền, Trường Dục, Quảng Xá đến vùng động cát của phá Hạc Hải. Lũy Trường Dục được đắp bằng đất sét cao 3m, chân lũy rộng 6m. Bên trong lũy có doanh trại, công sự, kho lương thực. Luỹ được xây dựng theo kiến trúc chữ Hồi, có tác dụng ngăn chặn quân Trịnh đánh phá phía Đàng Trong.
Sau đó, một lũy khác được đắp bổ sung ở vùng Động Hải (Quảng Bình), được gọi là lũy Đầu Mâu, cách lũy Trường Dục gần 20km về phía Bắc. Lũy này được đắp cao khoảng 6m, cao gấp đôi lũy Trường Dục; phía ngoài lũy đóng cọc gỗ lim, phía trong đóng cọc tre, đổ đất lên 5 tầng cấp, voi và ngựa có thể đi trên thành lũy. Trên lũy cứ cách 12m đến 20m lại xây một pháo đài đặt súng thần công, cách 4m đặt 1 súng phóng đá. Chiều dài của lũy khoảng 12km từ động ông Hồi dưới chân núi Đầu Mâu chạy men bờ Nam sông Lệ Kỳ đến cầu Dài ở phía Nam Đồng Hới.
Danh tướng Trương Phúc Phấn – một vị tướng có tài thao lược, chiến đấu quả cảm, gan dạ bảo vệ lũy Trường Dục, được người Đàng Ngoài cũng như người Đàng Trong thời bấy giờ gọi ông là “Phấn cố trì”. Ngoài ra, còn nhiều danh tướng đã góp phần tài trí chống giặc ngoại xâm như: Nguyễn Phạm Tuân, Lê Trực, Lê Mô Khởi, Mai Lượng, Cao Thượng Chí, Đoàn Đức Mậu, Đề Chít, Đề Én… làm rạng danh mảnh đất Quảng Bình anh dũng.
2. Hai vị Tiền khai khẩn đầu tiên của làng
Năm 1545, cha ông Nguyễn Hoàng là Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất đầu độc, quyền lực trong triều rơi vào tay anh rể ông là Trịnh Kiểm. Anh cả là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết. Do lo sợ bị anh rể lúc đó đang kiểm soát binh quyền của nhà Hậu Lê sát hại nên đã cho người tìm đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để xin lời khuyên. Trạng Trình đã nhìn hòn non bộ và ngâm rằng: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” nghĩa là một dải Hoành Sơn có thể dung thân được muôn đời. Ông nhờ chị ruột mình là bà Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin Trịnh Kiểm xin cho vào trấn thủ ở Thuận Hoá (là khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên – Huế ngày nay). Trịnh Kiểm thấy Thuận Hóa là nơi xa xôi, đất đai cằn cỗi nên Trịnh Kiểm đã đồng ý, bèn tâu vua Lê Anh Tông nên cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ ở Thuận Hoá năm 1558.
Theo lịch sử thì chúa Nguyễn Hoàng (1525 – 1613), từ Bắc Hà vào trấn thủ đất Thuận Hóa đã mộ dân hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An vào lập ở Đàng Trong năm 1558. Trong số đó, có thể có hai ông Lê Tông Lai – Chính ngọ đại trượng phu chi thần và Phan Tông Tài – Chính ngọ đại trượng phu chi thầntheo đoàn di cư vào Nam. Đến nay, sắc phong cho ông Lê Tông Lai vẫn còn giữ được. Ông Nghệ là người Trưởng tộc của họ Lê hiện đang cất giữ sắc phong của nhà Vua ban cho ông Lê Tông Lai. Còn sắc phong cho ông họ Phan vì chiến tranh đã bị thất lạc hoặc bão lũ cuốn trôi, không còn nữa.
Theo gia phả họ Lê thì Thỉ tổ họ Lê (Đầu họ), từ khi mới đến đây cho đến năm 2000. Tính theo thế hệ nối tiếp nhau đã 16 đời và các thế hệ họ Phan cũng như vậy. Còn nguồn gốc theo gia phả có ghi ngài họ Lê ở Kinh Triệu quận. Đối chiếu với nguồn gốc lịch sử thì ngày nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Còn ngài họ Phan ở Vinh Dương quận có lẽ là ở Nghệ An.
Dựa vào gia phả để tính theo niên đại các thế hệ nối tiếp nhau đến năm 2000 là 16 đời x 25 năm = 400 năm. Tính theo năm dương lịch là năm 1600 năm. Còn tính từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đấtThuận Hóa là năm 1558 cho đến năm 2000 là 442 năm. Như vậy, hai ngài Lê Tông Lai và Phan Tông Tài vào khai khẩn, lập làng đầu tiên gần 500 năm. Chúng ta cũng có thể tin nguồn gốc của hai vị Tiền khai khẩn, ở hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An vào khai khẩn, lập làng trong khoảng từ năm 1558 – 1613. Xác định vào thời gian đó là có cơ sở của nó. Thứ nhất, Nguyễn Hoàng vào trấn giữ Đàng Trong đã vận động hàng ngàn người cùng đi theo với mình. Không phải một đợt mà rất nhiều đợt di dân cùng các quan văn, võ tướng cho đến khi Nguyễn Hoàng mất đi. Thứ hai, theo gia phả của dòng họ Lê – Phan tính từ thời ông Lê Tông Lai và Phan Tông Tài vào đất Tả Phan khai phá đất đai đến nay chưa được 500 năm. Sau đó, các họ khác kéo nhau đến định cư ngày càng đông như họ Trần, họ Cao, họ Nguyễn v.v… làm cho làng quê càng thêmgắn bó mật thiết với nhau.
Để nhớ ơn hai vị “Khai quốc công thần” ấy, dân làng đã lập một miếu ở đầu làng và trồng một cây đa cao to cành lá sum sê để thờ hai vị Tiền khai khẩn đầu tiên của làng. Trải qua mấy trăm năm, cây đa cổ thụđứng sừng sững giữa đất trời với những tán lá xanh um, chằng chịt. Thân cây rất to phải 5 người ôm mới xuể. Bóng đa trùm lên mát rượi xóm thôn.Cây đa cao trên 25m, hàng chục rễ phụ lớn nhỏ bám sâu vào lòng đất tạo cho cảnh sắc làng quê thêm tươi đẹp. Chim chóc rủ nhau làm tổ, hót vang ríu rít trên cây. Đến mùa quả chín, từng đàn sáo đen, sáo sậu, sáo nâu, cu cườm, cu ngói rủ nhau về tìm ăn trái chín. Rồi lũ vàng anh và những con vẹt xanh thẫm lại cả đàn chào mào, chúng chen nhau tranh mổ quả đa chín vàng.Vào những ngày hè, ông mặt trời lên cao, những tia nắng vàng rực rỡ lại len lỏi qua kẽ lá, chiếu xuống mặt đất như những đốm sáng nhỏ li ti. Từ trên cây, mọc ra những chùm tua rua dài, dày chạm hẳn đến mặt đất giống như một vị già làng với bộ râu dài um tùm ngày ngày trông giữ bình yên cho ngôi làng.
Tiếc thay, trong một trận bão khủng khiếp năm 1990, cây đa cổ thụ đứng ở đầu làng đã bị gió giật làm bật gốc gãy đổ nằm bẹp xuống mặt đường. Còn ngôi miếu thờ của hai vị Tiền khai khẩn tồn tại lâu năm bị mưa gió bào mòn và bom đạn chiến tranh làm sứt mẻ đã bị xuống cấp, hư hỏng nghiêm trọng. Trong miếu thờ trước đây, có hai thần chủ của hai vị có công khai hoang lập ấp thành làng Tả Phan nên được Triều vua Tự Đức sắc phong cho hai vị ấy. Gần đây, dân làng có góp công sức, tiền của xây dựng tu bổ lại cái miếu thờ ấy được khang trang, đẹp đẽ hơn. Hàng năm các vị chức sắc trong làng hay đến đây để thắp hương, cúng giỗ cho hai vị Tiền khai khẩn đầu tiên của làng.
3. Tên làng
Con người ta sinh ra phải có tổ, có tông và phải biết nguồn gốc lai lịch của mình từ đâu ra, ví như cây có cội, nước có nguồn. Tục ngữ có câu: “Chim có tổ, người có tông”. Nếu không biết tổ tông ra sao thì cũng giống như chim không có tổ, nước không có nguồn vậy.
Người xưa kể lại rằng, khi chưa lập làng có hai anh em nhà họ Phan đi từ Nghệ An vào đây thấy đất đai phì nhiêu màu mỡ ở lại định cư xây dựng nhà cửa, vỡ ruộng khai hoang. Sau một thời gian, người em thấy mảnh đất phía tây dãi Trường Sơn bên này bờ sông Nhật Lệ trù phú quá bèn đưa vợ con lên đó làm ăn sinh sống. Rồi một thời gian sau, người từ các nơi khác kéo đến ngày càng đông, họ lập làng gọi là làng Hữu Phan.
Hàng năm hai làng vẫn thường qua lại thăm viếng nhau. Cứ đến ngày giỗ Tổ họ Phan, làng Hữu Phan mang bao nhiêu là lễ vật heo gà, cau trầu, rượu trà … qua làng Tả Phan cúng giỗ ông đầu họ. Phong tục đó kéo dài cho tới thế kỷ 20. Đến khi giặc Pháp mở những trận càn quét bắt bớ, bắn giết đồng bào hai làng hết sức dã man, tàn bạo thì hai làng không còn đi lại thăm viếng nhau nữa.
Tuy nhiên, hiện nay làng Hữu Phan vẫn còn lưu giữ một quyển gia phả dòng tộc họ Phan bằng chữ Hán. Đó là một nguồn tư liệu hết sức quý giá cho chúng ta tìm hiểu về lai lịch, gốc tích làng Tả Phan.
Vậy, tên làng Tả Phan có từ thời nào ? Ai là người đặt tên cho làng Tả Phan ? Tên làng Tả Phan có từ thời hai ông Lê Tông Lai và Phan Tông Tài vào đây khai khẩn đầu tiên của làng. Tả có nghĩa là bên trái, trong mối quan hệ đối lập với hữu là bên phải nên dân gian mới gọi là tả xung hữu đột. Tả còn có một nghĩa khác là dòng nước. Còn Phan có nghĩa là kéo, dẫn đi, níu, vịn vào, nắm lấy còn có một nghĩa nữa là cờ, lá phướn, cánh phan. Nhưng cũng có một nghĩa khác là tên một thứ ngọc quý. Trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn có câu: “Bước đi một bước lại vin áo chàng”. Như vậy, Tả Phan là một vùng đất phì nhiêu, màu mỡ nằm về bên trái như một thứ ngọc quý, tính từ Bắc vào Nam. Tóm lại, Tả Phan là một vùng đất phì nhiêu, màu mỡ quý như một viên ngọc mà không ở đâu có được.
Hai vị tiền khai khẩn đầu tiên của làng đã bàn với nhau lấy tên làng là Tả Phan mới hợp lý hợp tình. Như vậy, bên kia là làng Hữu Phan thì bên này là làng Tả Phan mới tương xứng với nhau.
Lúc bấy giờ dòng sông Kiến Giang chảy qua làng Tả Phan là nhánh sông chính, còn bên làng Hữu Phan là nhánh sông phụ. Dấu tích đó, hiện nay vẫn còn không thể phai mờ được. Nhánh sông đó bắt nguồn từ đập Mỹ Trung đổ vào Cửa Phủ rồi chạy song song theo đường quốc lộ 1 xã Gia Ninh xuôi dòng vàoràoQuản Bạc. Đến đây, dòng sông được chia thành hai nhánh chính. Một nhánh chảy theo theo đường quốc lộ 1 xuống giếng ông Cóc rồi đổ ra Rào Dưới. Còn một nhánh uốn khúc quanh co chảy vào đồng bại của Hiển Lộc rồi chảy vào rào của làng Tả Phan xuôi dòng về Rào Dưới đổ ra sông Nhật Lệ. Qua hàng trăm năm dòng sông đã bịphù sa,cát bồi lấp lại khiến cho con sông Kiến Giang phải đổi dòng chảy qua làng Trần Xá đổ vào sông Nhật Lệ. Ngày xưa, nạn cát bồi hết sức khủng khiếp. Cứ mỗi năm có hàng triệu m3 khối cát ào ào chảy vào dòng sông. Vào mùa khô dân làng đi rú ngang qua làng Hữu Phan thường lội bộ qua được dòng sông Nhật Lệ. Còn muốn đi qua Võ Xá thì phải đi đò ngang qua sông. Ngày xưa con sông Nhật Lệ từ thượng nguồn trên Long Đại cũng chảy về chia làm hai nhánh, một nhánh chảy vào sông Kiến Giang rồi đổ vào Cửa Phủ, còn một nhánh chảy qua làng Trần Xá theo dòng sông Nhật Lệ đổ ra biển. Dòng sông sâu tới 4 – 5 mét nước, người dân tổ chức đánh cá trên sông đem lại một nguồn thu nhập khá ổn định trong đời sống nhân dân.
Các cụ vào đây, thấy một bên tả, một bên hữu hết sức tương xướng với nhau nên đã đặt tên là làng Tả Phan. Còn phía đối diện với làng Tả Phan là làng Hữu Phan nằm ở bên cánh tay phải. Cái tên làng Tả Phan có từ ngày đó đến nay đã trải qua gần 500 năm.
4. Bước đầu khai khẩn vùng đất mới
Vùng đất Ninh Châu ngày xưa bao gồm 4 xã Gia Ninh, Võ Ninh, Duy Ninh và Hàm Ninh. Là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá, khắp nơi là rừng rậm, đầm lầy, lau sậy mọc lên xanh tốt um tùm. Nhờ vậy mà nhiều loại chim như diều xám, diều lửa, cò, le le, quắm đen, trích, cúm núm, vạc….rủ nhau về trú ngụ. Ngoài ra, các loại cá đồng, rắn, rùa, lươn, ếch nhiều vô kể. Người dân chẳng cần đi đâu xa, cứ xách giỏ ra đồng một lúc là bắt được một giỏ cá, tôm tép, lươn, ếch, cua đồng đem về nấu nướng, ăn uống dân dã, thú vị. Nguồn thức ăn vô cùng dồi dào.
Còn các khu rừng rậm, đầm lầy có nhiều loài động vật quý hiếm như rái cá, chồn cáo, hươu nai, heo rừng chạy nhảy từng đàn. Thỉnh thoảng dân làng thường bẫy được vài con heo rừng, hươu nai, chồn cáo đem về xẻ thịt cho cả làng cùng ăn.
Lúc còn hoang sơ, dân cư thưa thớt, rừng cây cổ thụ cao to, rậm rạp trên 20 mét. Những cây cao to thẳng đứng như sến, táu, mưng, dỗi, sung, cẩm xe, bời lời, dành dành… cành lá sum sê là nơi lý tưởng để loài quạ đen, quạ khoang kéo nhau về làm tổ sinh sôi nảy nở. Quạ khoang là loài quạ hiếm, lông mượt và rất đẹp, quanh cổ có một dúm lông màu bạc. Cứ chiều đến, hàng nghìn con quạ bay về đậu kín cây. Chúng bay lượn rợp trời, kêu quang quác gọi nhau đến inh tai rồi sà xuống đậu trên những cành cây cao chót vót để nghỉ ngơi, sau một ngày đi kiếm ăn mệt mỏi.Thỉnh thoảng có vài chú sóc nhanh nhẹn, nhảy nhót, đưa hai chân trước lên rất khéo léo hái những chùm quả ngọt cho vào miệng ăn ngon lành.
Rồi những cánh đồng lúa tốt tươi, những hồ sen tỏa hương thơm tươi mát, dịu dàng đến say đắm lòng người. Buổi sáng mát trời được nghe tiếng chim hót rộn ràng như một bản hòa ca bất tận. Thoáng chốc, ánh sáng đã chan hòa mặt đất. Sương đêm đọng trên lá cây ngọn cỏ, lấp lánh dưới ánh mặt trời. Dòng sông như một dải lụa mềm mại ôm lấy làng xóm thân yêu. Mặt sông lung linh ánh nắng sớm mai tinh khiết. Tất cả tạo nên một vẻ đẹp lạ lùng, kì ảo như trong cổ tích. Trên đường làng đã rậm rịch bước chân. Tiếng cười, tiếng nói hân hoan của các bà, các chị ra đồng thăm lúa của làng quê thân thuộc.
Lúc bấy giờ, ai mà đến làng Tả Phan sẽ được sống trong không gian bao la của đất trời, mây nước; hít thở không khí trong lành, ngắm nhìn giang sơn của những đàn chim trời: sếu, cò, giang, bồ nông, ngỗng, vịt trời và nhiều loài chim khác đang cần mẫn kiếm mồi hoặc bay lượn tung tăng. Những cánh đồng hoang vu xa tít tận chân trời với những bầy le le, cò trắng chập chờn tung cánh giữa mênh mông hoang dã… Cứ vào tháng 7 âm lịch, trời sa mưa liên tục cũng là lúc chim trời từ các nơi nườm nượp bay về vườn tre đậu oằn mình trên những ngọn cây, đông nhất là cò trắng. Sáng sớm, bầy chim kêu oác oác, vỗ cánh bay tản kiếm ăn, chiều tà bay về tổ. Chim cò đậu dày đặc quá nên nhìn cây như đang nở hoa trắng. Trong làng lúc nào cũng rộn ràng tiếng chim, nào là tiếng tu hú gọi bầy, tiếng cò quang quác, lũ gà nước lao xao, tiếng bìm bịp buồn buồn, lũ cồng cộc láo nháo quậy nước dưới ao giành mồi…
Cũng như cò, chim cuốc có mặt ở nhiều vùng sông nước, đặc biệt là ven những ao chuôm rậm rạp. Chúng nhút nhát, thấy động thì lẩn rất nhanh vào bụi rậm, nên khi ví von tính nết hay lẩn trốn, người ta thường bảo cuốc lủi. Các loài cuốc thường làm tổ ven bờ hoặc trong các đám lau sậy, ăn các loại tôm cá, sâu bọ và mầm rễ cây trong nước. Vào hè thu, chúng đẻ trứng, mỗi lứa dăm, bảy quả màu trắng đốm nâu, nhỏ hơn trứng gà so một chút. Sau hai tuần trứng nở, cả chim trống và mái đều lo kiếm mồi nuôi con. Cả ngày chúng đi lang thang, lục lọi trong các lùm cây, bụi rậm, ao bèo, sen và những đồng lúa vừa gặt xong.
Cuốc kêu rất to, vào tinh mơ và chập tối. Cả đàn thường vừa bay vừa kêu từng tràng cuốc cuốc… Riêng những con đi lẻ thường kêu đứt đoạn u uất. Dựa vào đó, người xưa thường ví tiếng cuốc với nỗi lòng đau thương của người dân mất nước: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” (Qua đèo Ngang – Bà huyện Thanh Quan). Bên tiếng cuốc nhiều khi còn thấy tiếng ếch, nhái, chẫu chuộc khiến khung cảnh làng quê thêm lặng lẽ, cô tịch. Khi cuốc kêu là lúc trời chuyển từ mùa xuân mát dịu sang mùa hè oi ả.
Trong các thứ chim quê, quen thuộc nhất là con cò. Ở Việt Nam, có tới mười mấy loài cò (thuộc ba họ diệc, hạc và cò quăm) nhưng dễ bắt gặp hơn cả là loài cò trắng. Tuy màu sắc khác nhau nhưng các loài cò đều có cổ dài, mỏ nhọn, chân cao, thân gầy. Chúng ăn chủ yếu cua, ốc, cá, tôm và thường lặn lội ven sông, hồ ao hay ruộng ngập nước. Đa số làm tổ từ tháng tư đến tháng chín, xếp tầng trên các tán cây, bụi rậm kêu cò cọ inh ỏi. Cá biệt là loài cò thìa có chiếc mỏ đen bè ra như cái thìa, khi kiếm ăn thì há mỏ, lia qua lia lại dưới mặt nước. Chúng chỉ thấy ở vùng đồng bằng cửa sông vào mùa di trú.
Khi các ngài đến vùng đất mới, những lưu dân phải bắt tay vào việc mưu tìm cách sống. Nhưng ngoài sức lao động của đôi bàn tay, họ thiếu thốn mọi thứ: phương tiện, vốn liếng, giống má, trâu bò… Cho nên ban đầu, họ chỉ có khả năng khai phá, trồng trọt trên những diện tích nhỏ bé, hoặc đi khai thác những nguồn lợi thiên nhiên sẵn có, như vào rừng lấy gỗ, mây, mật và sáp ong, than củi, săn bắt thú để lấy thịt, sừng, da, đánh bắt tôm cá ở dưới sông nhằm giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày. Tất nhiên cũng không loại trừ việc cày thuê cuốc mướn cho những gia đình khá giả. Việc khai phá trong buổi đầu này thường diễn ra dưới hình thức tập thể, từng nhóm, từng cụm, có thể gồm những gia đình có họ hàng thân thuộc, hoặc đồng hương đồng xứ. Vùng đất mới lúc này còn rất hoang vu, xa lạ, đầy thú dữ, rắn rết, đến nỗi “con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”. Cho nên chỉ có dựa vào nhau, cố kết lại với nhau, thì mới tạo được một sức mạnh để đối phó với những nguy hiểm, những biến cố bất kỳ có thể xảy ra.
5. Các ngôi miếu thờ
“Cuối làng đền miếu bốn ngôi, Một đền Văn Thánh ba ngôi miếu Thần” (thơ của ông Lê Văn Hách). Bốn ngôi miếu ấy đều nằm ở gần Nương Hoang. Miếu được xây theo kiểu hình chữ nhật với hai phần cách nhau bởi một bức rèm, nội điện bên trong và nhà tiền tế bên ngoài. Văn Thánh được xây trên một gò đất cao để thờ các vị Thánh về văn. Trong miếu cũng có tượng thần hoặc bài vị thần linh, đặt trên ngai, ngai đặt trên bệ với thần sắc hoặc bản sao. Còn một ngôi miếu thờ thần nữa là miếu ông Mỵ nằm ở phía Tây Nam Máng Đồng giáp với phía Tây Bắc làng Hiển Lộc. Miếu được xây theo kiểu hình chữ nhật với hai phần cách nhau bởi một bức rèm, nội điện bên trong và nhà tiền tế bên ngoài. Miếu được xây trên một gò đất cao. Trong miếu cũng có tượng thần và bài vị thần linh.
Trên Máng Đồng còn có một ngôi miếu thờ thần nữa ngay trước mặt nhà bà Tuyến bây giờ. Miếu thờ được xây trên một gò đất bằng phẳng theo kiểu hình chữ nhật với hai phần nội điện bên trong và nhà tiền tế bên ngoài. Trong miếu thờ rất nhiều tượng Phật rất đẹp được bài trí hết sức cẩn thận, chu đáo theo thứ bậc từ cao xuống thấp. Hai bên có hai bài vị thần linh. Đây là một miếu thờ rất to và đẹp nhất làng. Phía trước đền thờ có một cây duối rất to cao, cành lá sum sê rậm rạp che mát một gốc trời. Mỗi lần duối chín trẻ con chăn trâu đua nhau trèo lên hái ăn một cách ngon lành. Ngày xưa, ngôi miếu thờ này hết sức linh thiêng, bà con ở xa đều đem lễ vật về đây cúng kính các vị thần linh để cầu may, hưởng lộc cho bản thân và gia đình mình. Những lễ vật không thể thiếu như nến, nước, rượu, hoa quả, trầu cau, gạo, muối, cơm canh, gà, heo quay. Cùng với đó là tiền vàng địa phủ, vàng mã để hóa cho người đã khuất. Nhưng sau đó do người ta xúi dục hoặc thuê gì đó không biết, một người trong làng đã châm lửa đốt ngôi đền ấy đi. Ngôi đền cháy thành tro không còn để lại một dấu tích gì hết. Sau này, người đốt đền ấy bị trời trừng phạt làm mù cả hai con mắt. Rất tiếc cho một ngôi đền thờ linh thiêng như vậy mà bị đốt đi thì rất uổng.
Ngày xưa, có một con hổ không biết từ đâu lủi thủi mò về miếu ông Mỵ nằm nghỉ ngơi, phơi nắng ở một bãi đất trống. Một người đàn ông tính hâm hấp, gàn dở thấy vậy, tìm cách mon men đến gần con hổ để vuốt ve nó liền bị nó tát cho một cái hoa mắt nổi đom đóm bỏ chạy về làng. Dân làng biết có hổ về liền cùng nhau khua chiêng gõ mỏ, trống giục liên hồi, kẻ vác gậy gộc, người cầm giáo mác xông lên miếu ông Mỵ đánh đuổi hổ. Hàng chục người đàn ông trai tráng khỏe mạnh, vạm vỡ, rắn chắc xếp thành hình cánh cung la hét vang trời dậy đất gây âm thanh náo động, hỗn loạn làm cho hổ kinh hồn bạt vía. Tiếng gào thét mỗi lúc một to kinh thiên động địa, tiếng chiêng khua inh ỏi, tiếng trống thúc giục giã làm cho con hổ hoảng sợ bỏ chạy lên rừng. Dân làng hò reo hớn hở kéo nhau ra về trong tiếng nói cười vui vẻ. Đây là một câu chuyện có thật rất ly kỳ mà đầy thú vị, tôi đã được nghe bà nội tôi kể hồi còn nhỏ.
Thuở khai thiên lập địa, dân làng còn trồng một cây bún ở trên Máng Đồng. Cây bún to cao, cành lá sum sê xanh ngắt giữa cánh đồng mênh mông nắng gió. Trải qua mấy trăm năm mà cây bún vẫn có một sức sống hết sức mãnh liệt.Mỗi lần đi chăn trâu bọn trẻ con thường tụ tập nhau dưới gốc cây bún ngồi hóng mát, chơi cù, đánh đáo… Rồi bà con dân làng đi làm đồng về mệt mỏi, mồ hôi nhễ nhại cũng ghé vào cây bún ngồi nghỉ ngơi một tý cho khoan khoái, dễ chịu.Sau ngày giải phóng miền Nam, một số thanh niên rất đam mê câu cá đã lên cây bún cưa chặt cành ngọn nó đi làm ống câu cá. Vì thế cây bún trơ trọi chỉ còn thân với gốc thôi.Trải qua một thời gian dài, cây bún mới đâm thêm những chồi non mới.Sau này, dân làng xây thêm một bàn thờ ở dưới góc cây bún. Mỗi lần trong làng có người chết khiêng qua đó phải dừng lại thắp hương khấn váy một hồi rồi mới đi lên ở trên bệ chôn.
Tiếc rằng những ngôi miếu thờ, đền Văn Thánh ấy đến nay không còn nữa. Trải qua một thời gian dài không được tu bổ đã bị mưa gió hủy hoại và chiến tranh tàn phá nặng nề, phế tích còn lại cũng bị san phẳng thành bình địa.
6. Đình làng
Đình làng Tả Phan tọa lạc ở giữa làng ngay phía trước mặt Nhà văn hóa có diện tích 2000 m2. Bên cạnh phía Nam Đình có một cái giếng làng Đình rất to, nước trong vắt. Dù trời hạn gay gắt, nắng cháy xém da người nhưng nước vẫn không bao giờ cạn. Dân làng hay ra đó gánh nước về nấu ăn, giặt giũ, tắm rửa thường xuyên.
Đình làng là một ngôi nhà to, rộng được dựng bằng những cột gỗ tròn to thẳng tắp đặt trên những hòn đá tảng lớn. Cột đình được làm bằng gỗ lim to đến một người ôm không xuể. Kiến trúc đình làng có 5 gian với những hàng cột lim to khoẻ, vững chãi. Vì, kèo, xà ngang, xà dọc của đình cũng làm toàn bằng gỗ tốt như gỗ lim, gụ, trắc. Tường đình được xây bằng gạch. Mái đình lợp ngói mũi hài, hai đầu hồi xây bít đốc, làm bốn góc đầu đao cong. Trên nóc đình là hai con rồng chầu mặt nguyệt, tục gọi là “lưỡng long triều nguyệt” hay “lưỡng long tranh châu”. Bốn góc mái có đầu đao uốn cong mềm mại vút lên như cánh chim bay. Bờ nóc của đình được trang trí một dải dài hoa văn chạm nổi chạy suốt là hoa chanh, hoa thị. Tường bao xây bằng gạch trần nung già “da vải” mạch bắt vữa, quét vôi trắng.
Trong đình, gian giữa có bàn thờ, thờ một vị thần của làng gọi là Thành hoàng. Một chiếc trống cái cũng được để trong đình để đánh vang lên theo nhịp ngũ liên thúc giục dân làng về đình tụ họp bàn tính công việc của làng. Ngày xưa, các vị bô lão trong làng đi rước mời những thợ mộc tài giỏi các nơi về chạm trỗ Đình làng. Đình là nơi thờ thần Thành Hoàng của làng. Đình vừa là nhà, vừa là nơi thờ cúng, vừa là nơi hội họp của dân làng.
Gian chính điện có sàn thấp, gọi là “lòng thuyền”. Sàn ván các gian hai bên cao dần, tổng cộng là hai cấp, phân biệt địa vị của các hương chức khi họp việc làng để người ngồi “chiếu trên”, kẻ ngồi “chiếu dưới” tùy theo vai vế trong làng. Bức cửa võng và tấm trần che của gian chính điện được chạm trổ công phu.
Trong khuôn viên của đình có sân đình, hồ nước. Sân đình là một bãi đất rộng, bằng phẳng, thoáng mát được lát gạch rất sạch đẹp. Ngoài chức năng tạo sự bề thế còn là nơi diễn ra những trò diễn dân gian vào các dịp hội làng hay những công việc chung của cộng đồng. Sân đình cũng là nơi người Việt chia sẻ, gửi gắm tình cảm, là nơi nam nữ hò hẹn, tình tự. “Qua đình ngả nón trông đình, Đình bao nhiêu ngói em thương mình bấy nhiêu”. Điều đó thể hiện tính “dân dã” gắn bó mật thiết trong cộng đồng người Việt. Bên cạnh sân đình, trong khuôn viên còn có một hồ nước sâu rộng khoảng 20 m2 được thả hoa súng và rất nhiều các loài cá khác nhau bơi lội tung tăng dưới hồ rất đẹp. Đến mùa những bông súng sắc hồng, sắc tím lặng lẽ khoe sắc mang đến một vẻ đẹp đến nao lòng, làm xao xuyến trái tim biết bao người.
Nằm trong khuôn viên còn có những cây cổ thụ như đa, muỗm tỏa bóng mát xuống công trình. Màu trắng của tường vôi, màu nâu đỏ của ngói hoặc gạch trần, hoặc rêu phong, màu xanh của lá, mặt phẳng thoáng của nước hồ ao như tấm gương soi lớn phản chiếu cảnh vật, nhân đôi chiều cao công trình… Tất cả hợp thành hòa sắc bức tranh làng quê thân thuộc, êm đềm, đầy chất trữ tình.
Kiến trúc đình làng được chia làm 3 phần như sau:
– Hậu cung là nơi thờ thần Thành hoàng làng, giữ các vật thiêng liêng, đồ thờ cúng được để ở vị trí trung tâm kín đáo tạo nên không khí thần bí, trang nghiêm.
– Đại Đình là nơi hành lễ sinh hoạt công cộng nên được xây trang trọng bề thế, gắn liền với hậu cung. Đại Đình được làm bằng gỗ gụ, lim, trắc tạo hình “thượng song hạ bản”. Rồi các cặp liễn đối và hoành phi do các vị chức sắc trong làng phụng cúng. Các cặp liễn đối khắc chữ Hán Nôm ca ngợi công đức các vị Tiền khai khẩn đầu tiên của làng do các vị chức sắc trong làng thuê người viết.
– Tiền tế có kết cấu hai hàng chân cột gỗ hình tròn, trên các cột treo cặp liễn đối cổ. Xung quanh Tiền tế để trống thông ra phía sân tạo không khí thoáng đãng.
Nhìn từ bên ngoài: mái đình có tỉ lệ đồ sộ, khá dày, chiếm 2/3 chiều cao ngôi đình, bon góc xòe rộng uốn lượn nhẹ nhàng. Bờ nóc hơi võng, có khi 2 đầu nhỏ cao vút ra ngoài như hình con thuyền lớn, có khi được đắp hình đôi rồng chầu vòng sáng (lưỡng Long chầu Nguyệt) các bờ dải có đắp hình trang trí con nghê, con phượng cùng các đường gờ đường xoi của lá mái, lá diềm, đao đình tạo nên những đường nét duyên dáng, tương phản rõ rệt với các nhà ớ thôn xóm lân cận và lại hòa hợp với thiên nhiên cây cao, hồ rộng, đồng ruộng mênh mông xung quanh.
Thời kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), thực dân Pháp đi càn quét đã bắn 02 quả cà nông trúng ngay Đình Làng làm xé tan một gốc đình. Sau đó, dân làng tu bổ lại cho ngôi đình khang trang, đẹp đẽ hơn.
Nhưng tiếc rằng, vào năm 1960 với tinh thần đập phá các đình chùa, miếu mạo rất sôi nổi trên toàn miền Bắc. Lúc đó, chủ nghĩa “vô thần” nó ăn sâu trong nếp cảm, nếp nghĩ của mỗi cán bộ, đảng viên. Ở đâu có đình chùa, miếu mạo là thẳng tay đập phá không hề thương tiếc. Nghe nói đến đập phá đình làng thì ai cũng sợ, không ai dám ra tay đập phá. Vì người ta sợ rằng, phá bỏ ngôi đình ấy thì thần linh sẽ trừng phạt. Không biết ngôi đình ấy có linh thiêng hay không, có thần linh khuất mặt khuất mày trú ngụ ở trong đó hay không mà người ta sợ đến như vậy. Ngôi đình đồ sộ ấy vẫn còn rất tốt nhưng chủ trương của trên chỉ đạo là phải đập phá, dở bỏ các đình chùa, miếu mạo. Không một ai đủ can đảm dám đứng ra để đập phá, tháo dỡ cả. Khi đó, ông Lê Ấm là Chủ nhiệm HTX là người gan dạ nhất, dũng cảm nhất không sợ gì cả. Ông bảo: “Không ai dám đập phá, tháo dỡ để tôi đập phá, tháo dỡ cho”. Ông cầm một cái búa leo lên nóc đình đập vỡ mấy viên gạch ngói. Rồi ông leo xuống bảo: “Tôi đập xong rồi bây giờ bà con mỗi người một tay xúm vào mà tháo dỡ đi. Quỷ thần có bắt thì bắt tôi đây. Không bắt bà con đâu mà sợ. Bà con cứ yên tâm mà tháo dỡ ngôi đình này ra để xây lại một Hội trường mới khang trang hơn, đẹp đẽ hơn”.
Lúc đó, dân làng mới tập trung lại tháo dỡ đình ra và xây một cái nhà Hội trường mới rộng rãi để họp hành. Ông Lê Ấm là người có công đầu tiên trong làng đã quyên góp vận động bà con xã viên xây được một Hội trường lớn đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Lẽ ra, không nên đập phá, tháo dỡ cái đình làng ấy mà nên bảo tồn tôn tạo nó lại để muôn đời con cháu mai sau được nhìn thấy cái di tích văn hóa của dân làng ngày xưa để lại thì hay biết mấy.Bây giờ muốn xây dựng lại một ngôi đình khang trang, đàng hoàng giống ngày xưa cũng rất khó khăn, không thể nào làm được.
7. Tế lễ ở Đình làng
Hàng năm vào dịp rằm tháng giêng và rằm tháng sáu, dân làng đều tổ chức tế lễ, rước hội ở đình làng. Trong lễ có buổi rước thần. Theo truyền tụng thì rước thần có mục đích chính là mời các vị thần, trong đó, vị thần chính là thần Thành Hoàng đi ngự xem giang sơn phong thổ và dân tình một năm qua có gì thay đổi. Rước thần còn gọi là nghinh thần.
Đi đầu đoàn rước thần là hai hàng người cầm cờ và người cầm loa truyền lệnh dọn đường. Tiếp theo, đội trống cà rừng và một số nhạc công như nhị, sáo, kèn, bạt, hợp tấu với trống cà rừng. Không ai hiểu vì sao đội trống kèn này lại có tên là “cà rừng”, nhưng khi nghe tiếng trống thì quả là âm thanh của nó gần đúng như tên gọi.
Một đội trống cà rừng gồm từ ba đến sáu người, mỗi người mang một chiếc trống trước ngực, mặt trống ngửa lên, người nhạc công phải gõ trống cả hai tay theo chiều thẳng đứng trên mặt trống (khác với cách đánh trống điểm ở trống đại). Đội trống cà rừng bao gồm cả bộ phận trống đại điểm cho trống cà rừng. Tóm lại, toàn đội trống cà rừng gồm có:
– Ba hoặc bốn, năm, sáu chiếc trống cà rừng.
– Một chiếc trống đại có hai người khiêng và một người đánh.
– Vài ba nhạc công kèn, nhị, bạt v.v. . .
Loại trống cà rừng chỉ sử dụng riêng trong các lễ rước thần. Nó không được dùng trong các đám rước khác. Cho nên, trong làng xã, nếu nghe tiếng trống cà rừng đâu đó thì người ta biết chắc đó có rước thần.
Trống cà rừng bắt buộc nhạc công phải đeo trước ngực. Trống có hai mặt, bịt bằng da bò thuộc mỏng, đường kính mỗi mặt trống khoảng 30cm, chiều cao chang trống chừng 28cm làm bằng gỗ mít, có khi là cả thân cây mít đục rỗng. Trống hình trụ, giữa lưng chang trống rộng hơn hai đầu mặt trống. Chu vi giữa chang trống, chỗ rộng nhất là 1m14. Nếu tính đường kính, có thể là 36 cm, rộng hơn hai mặt 5 cm.
Người nhạc công đánh trống bằng hai cái dùi bằng gỗ táu, tiện tròn, đầu lớn đầu nhỏ; đầu lớn có đường kính 3cm, đầu bé 1,5cm, chiều dài dùi trống là 40 cm.
Như trên đã nói, trống cà rừng luôn có bộ phận trống đại kèm theo để điểm đệm cho cà rừng.
Tuy nhiên, trống đại ở đây không phải là loại trống đại đi đôi với chuông trong bộ “chung cổ”. Nó khác ở chỗ kích thước nhỏ hơn đôi tí đã đành nhưng nó khác nhất là ở chỗ âm thanh giữa nó với trống đại chung cổ.
Rước thần là loại rước có bước diễu hành rất chậm, khoan thai, thư thả, dịu dàng và tôn nghiêm, kính cẩn khác với lối diễu binh, bước quân hành hùng dũng, mạnh mẽ, nhanh gấp, dứt khoát.
Thần ngự khác với quân đi, mặc dầu trong rước thần cũng có quân lính (tượng trưng) theo hầu. Cho nên trống cà rừng tuy cũng là trống diễu hành, cũng thúc giục rộn ràng, cuốn hút nhưng thư thái, hình như khuyến khích người tham gia đám rước chỉ cần nhích lên từng bước, ung dung tuần tự mà đi, chớ vội vàng.
Tiếng trống nghe xao xuyến, giục giã mà từ tốn; oai nghiêm, ngân vang mà cũng dịu dàng, lắng động… là phần nhiều nhờ ở tiếng trống đại điểm nhịp.
Cái tinh tế của tiếng trống đại trong đội trống cà rừng là ở chỗ: Khi đám rước đang trên đường đi, bước diễu hành đang đều đều chầm chậm, tiếng trống cà rừng dù chỉ một thanh “rừng” hay hai thanh thành đôi “rưng, rừng” thì âm thanh của nó chỉ gần bằng nhịp “hai – bốn” trong tân nhạc, tiếng trống đại điểm cho nó cũng chỉ bằng một thanh độc nhất, nhưng lại ngân dài, lan tỏa rộng hơn cả những tiếng trống cà rừng… Tiếng trống đại điểm nhịp lúc này giống như trong hành văn, nhà ngôn ngữ học sử dụng chấm lửng cuối câu sau những chặng ngắt ý bằng dấu phẩy…
Khi đám rước dừng lại một điểm nào đó, (thường là dừng lại ở trước đền miếu thờ các vị thần ngoài vị Thành Hoàng Bổn Thổ) và khi đám rước về trở lại ngôi đình đã xuất phát, thì tiếng trống cà rừng lúc này rất dồn dập, giục giã, gấp gáp, cáp bách đến kỳ lạ, ngược hẳn lúc đang đi diễu hành.
Lúc này, những thanh âm “rưng… rừng… rừng rừng… và tiếng trống đại điểm thùng” đều ngắn, tròn trặn, dứt khoát, như một dấu chấm than trong một câu văn.
Ở diễu hành rước thần, trống cà rừng thư thái khi đang đi và thúc giục, dồn dập khi dừng lại. Ở diễu binh, trống nhạc giục giã khi đang đi và dịu dàng êm ả khi dừng lại…Do đó, tiếng trống đại điểm nhịp cho cà rừng phần nhiều là một tiếng, rất ít khi tiếng đôi liên tục (chỉ trừ khi chấm dứt hẳn, nhưng lúc này thì hạ dần gần như không còn nữa). Nhưng, cũng một tiếng trống đại điểm nhịp đó mà khi điểm nhịp trên đường dài của đám rước thì âm thanh cũng kéo dài và khi đám rước dừng lại thì âm thanh của nó lại ngắn gọn, tròn trịa một cách gọn gàng. Người rành nghe hay quen thuộc với nhiều đám rước khác nhau sẽ phân biệt được, sẽ biết được cái tinh túy của nó.
Trong một đám rước thần, tiếng trống cà rừng cộng hưởngvới rất nhiều thứ âm thanh khác như những bản tấu nhạc của đội nhạc ngũ âm, tiếng trống cơm với tiếng kẻng, tiếng loa “lộ bố”, (ban bố lệnh trên đường đi của thần) cho âm linh, oan hồn tránh đường; và tiếng chuông trống lớn chầu hàu cộng thêm hàng ngũ lọng tàn, cờ quạt cùng mùi hương trầm mà thêm tôn nghiêm, oai vệ.
Đi sau đội trống cà rừng là đội nhạc ngũ âm, gồm đủ trống kèn, sáo, nhị, bạt… Tiếp đến là trống đại, chuông lớn, cứ ba tiếng chuông là tiếp theo ba tiếng trống, nhịp chậm… Sau hàng trống và nhạc là hương án có đủ đèn lư bằng đồng, bình hoa, quả nải… Hương án thay cho bàn thờ trong đám rước, trên đặt các hộp sắc bằng vua phong cho các vị thần thánh từ các miếu, các đền rước về làng, xem như các vị thần đang ngồi trên hương án để đi về đình làng.
Đi sau hương án là đội binh bảo vệ ngai vàng. Độ binh được trang phục đúng như binh lính thật của nhà vua nhưng trang bị bằng binh khí gỗ mà hình dáng giống như thực… Sau đội binh là Ngai Thần, sơn son thếp vàng giống như ngai vua thật, chỉ khác là trên ngai không có vua và người ngồi. Ngai Thần cũng được một đội binh 4 người khiêng, có 4 lọng vàng che. Trước bệ ngai còn có một chiếc lư trầm bằng đồng lớn, đốt trầm hương mà không có đèn nhang như ở hương án. Tiếp Ngai Thần là vị chánh tế chủ bái của làng đi theo hầu. Vi này cũng được che hai hay một lọng xanh, tùy theo chức tước của vị đó. Cuối đám rước là một đoàn người cầm cờ giống như đội cờ đi đầu.
Đoàn rước thần đi khắp các nẻo đường chính trong làng. Những nhà ở hai bên đường mà đám rước sẽ đi qua đều tự nguyện dọn bàn thờ, lương án, hương đèn nghi ngút chờ đón đám rước đi qua, chủ nhà mang áo rộng xanh, chít khăn đóng đen vái lạy chào mừng, giống như nghênh giá đức vua .
Sau lúc đám rước thần trở về đình làng, làng làm lễ tế. Dân làng, tùy khả năng, lòng thành, bưng lễ vật của mình đến tế thần, bên cạnh lễ vật của làng.
8. Lễ cúng đình
Trong đời sống tín ngưỡng và tâm linh của người Việt, đã từ lâu lễ cúng đình chiếm một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt làng xã. Đó là một lễ hội thiêng liêng và đông vui nhất của làng được tổ chức một năm hai lầ vào rằm tháng giêng và tháng sáu Âm lịch được diễn ra một cách trang nghiêm sùng kính. Đó là nơi hội tụ những nét độc đáo lâu đời của các hội làng người Việt, là nơi bảo lưu và toả sáng những giá trị truyền thống văn hoá Việt Nam.
Từ cuộc sống nhọc nhằn, đầy bất trắc, người dân gửi gắm khát vọng và ước muốn của mình về một cuộc sống bình yên, no đủ ở vị Thành hoàng làng. Hội làng thường lấy đình làm cơ sở. Đấy là nơi thờ Thành hoàng làng. Vì vậy, giữa hội làng và tín ngưỡng Thành hoàng có một sự đồng nhất. Hội làng chính là nghi thức biểu đạt quan niệm của dân làng về thần Thành hoàng.
Trên bệ bàn thờ thần nơi tôn nghiêm nhất của ngôi đình là khánh thờ. Trong khánh thờ có chữ Thần bằng Hán tự màu vàng trên nền đỏ. Dưới bàn thờ thần là ban chánh tế, nơi để vật phẩm cúng thần, được bài trí trang nghiêm.
– Lễ hội cúng đình: Lễ kỳ yên, là lễ chính của đình, người Việt gọi là lễ vía thần, thực chất vừa là cúng thần, vừa là lễ hội nông nghiệp để cầu an, cầu mùa, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa.
Vào ngày đầu của lệ cúng, có tổ chức lễ nghênh thần, mang ý nghĩa đưa vị thần bảo hộ thăm thôn làng, chứng kiến đời sống sinh hoạt của toàn dân trong làng. Sau khi vị thần này trở về và an vị tại đình thì tiến hành cúng tế theo nghi thức cổ truyền là lễ Túc yết (túc trực-yết kiến). Chịu trách nhiệm chính của buổi lễ cúng là ông chánh bái, có sự giúp sức của bồi tế. Toàn bộ nghi thức hành lễ đều theo lệnh của hai người chủ xướng đứng hai bên hương án kế cận vị chủ tế. Tất cả lễ nhạc, động tác dâng hương, rót rượu, dâng trà, đọc văn tế, bái lạy… đều phải theo đúng lời chủ xướng. Lễ được tiến hành trong hương trầm nghi ngút, trong tiếng nhạc lễ, có các vị bô lão mặc áo dài, khăn đóng đứng trang nghiêm hai bên bàn thờ thần, mắt hướng về nơi “tuyên sắc” như hồi tưởng lại công lao, sự nghiệp của người có công khai mở đất, xây dựng cuộc sống từ buổi đầu.
Lễ vật chính dâng cúng trong lễ Túc yết gồm có một con heo đã mổ xong, nướng chín, một chén huyết, một ít lông, xôi, trái cây, trầu cau, một đĩa muối gạo… Bắt đầu vào lễ, ông chánh tế đến dâng lễ trước bàn thờ. Rồi lần lượt, “ban quản trị” thay nhau vào lễ. Sau khi đánh 3 hồi trống và 3 hồi chiêng mõ, ban nhạc lễ với các nhạc cụ dân tộc bắt đầu trỗi lên, lễ dâng hương, rót rượu, dâng trà bắt đầu. Diễn biến của buổi lễ đều theo sự điều khiển của người xướng lễ. Đến khi dâng hương, dâng 3 tuần rượu và dâng trà được mang lên trước bàn thờ. Ban tế quỳ xuống “đọc văn” trong khi ban nhạc lễ trỗi nhạc để phụ hoạ cho giọng đọc. Dứt bài văn tế, ông chánh tế nghỉ cúng, hoá văn bản này và một ít giấy tiền vàng, chôn mao huyết để tế đất. Phần nghi thức Túc yết đến đây coi như đã xong.
Lễ Chánh tế với mục đích tạ thần. Nghi thức diễn lại như lễ Túc yết, có hơi khác là sau phần dâng trà của lễ Túc yết là phần uống rượu và ăn thịt mang ý nghĩa nhận lộc do thần ban cho vị chánh tế. Như vậy, lễ cúng đình thực chất là một lễ Kỳ yên, vì động tác của ông chánh bái là động tác của một thầy pháp, động tác ma thuật nhằm cầu mưa.
Sau phần lễ là phần hội, phần sôi động nhất của lễ cúng đình. Đó là lễ hội cổ truyền thấm nhuần tinh thần cộng đồng trách nhiệm không thể thiếu được trong đời sống thôn dã sau những ngày tháng lao động mệt nhọc, trong khung cảnh làng quê thanh bình trật tự. Cư dân đến với lễ hội cúng đình trước hết để tỏ lòng tôn kính và biết ơn các vị phúc thần và các bậc tiền nhân có công khai phá, mở làng để lại cơ nghiệp cho con cháu, đồng thời cũng là dịp biểu thị ý thức tôn trọng văn hoá của dân tộc, hưởng thụ hình thái sinh hoạt cộng đồng vốn có nhiều gắn bó với phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian mà mỗi năm chỉ diễn ra có một lần. Lễ hội cúng đình cũng xuất phát từ nhu cầu giải toả những uẩn khúc trong đời sống, đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng.
9. Truyền thống chống giặc, cứu nước
Sau khi vua Tự Đức chết, Thượng thư Bộ binh Tôn Thất Thuyết trong Hội đồng phụ chính đã dựa vào một số quan lại phái chủ chiến phế truất những ông vua thân Pháp từ Dục Đức, Hiệp Hòa đến Kiến Phúc rồi đưa Hàm Nghi còn nhỏ tuổi lên ngôi. Ngày 5-7-1885, Tôn Thất Thuyết đem quân đánh vào Tòa Khâm sứ và đồn binh Pháp nhưng bị thất bại phải đưa vua Hàm Nghi rút lên miền núi Quảng Trị. Ngày 13-7-1885, từ Sơn Phòng Quảng Trị, vua Hàm Nghi ra Chiếu Cần Vương hô hào nhân dân ra sức giúp vua cứu nước.
Hưởng ứng Chiếu Cần Vương, từ năm 1885 nhiều cuộc khởi nghĩa lấy danh nghĩa Cần Vương nhanh chóng nổi lên khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam tiêu biểu là những cuộc khởi nghĩa Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công Tráng; khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật; khởi nghĩa Tây Bắc của Nguyễn Quang Bích và khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng.
Khi biết Hàm Nghi lên Sơn Phòng – Quảng Trị, thực dân Pháp mở nhiều cuộc hành quân truy tìm, bắt buộc Tôn Thất Thuyết phải đưa vua ra vùng núi Hương Khê, Hà Tĩnh. Đầu tháng 11-1885, biết tin Hàm Nghi ở Sơn Phòng – Hà Tĩnh, thực dân Pháp đã huy động lực lượng càn quét, Tôn Thất Thuyết lại phải đưa Hàm Nghi vào huyện Tuyên Hóa- Quảng Bình lập căn cứ kháng chiến mới. Tuyên Hóa – Quảng Bình trở thành Kinh đô kháng chiến của phong trào Cần Vương trong những năm 1885 đến năm 1888.
Phong trào Cần Vương nổi lên có các đội quân của Đề Én, Đề Chích, Hoàng Phúc và nhiều văn thân khác. Nghĩa quân của Hoàng Phúc đã phối hợp với các nhóm nghĩa dũng của Đề Én, Đề Chích dựa vào vùng núi phía tây hai huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy xây dựng căn cứ ở Kim Sen, Lèn Bạc tổ chức nhiều cuộc tấn công đánh phá doanh trại giặc làm cho chúng luôn bị động đối phó. Nghĩa quân khống chế cả một vùng rộng lớn từ trung tâm tỉnh lỵ Đồng Hới đến vùng đồng bằng hai huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy, đánh vào đình Mỹ Lộc tiêu diệt toán quân Pháp, bắt khâm phái Võ Bá Liêm, nhiều lần đánh vào các đồn binh Pháp ở Đồng Hới và có khi mở rộng địa bàn vào tận Cửa Việt Quảng Trị. Lực lượng kháng chiến của phong trào Cần Vương ở Quảng Bình phát triển mạnh mẽ, sâu rộng từ phía bắc vào phía nam tỉnh, trên cả vùng rừng núi và đồng bằng làm thực dân Pháp và triều đình Huế hết sức lo lắng.
Nghe theo tiếng gọi của phong trào Cần Vương, ông Lê Bá Hy đã rời bỏ quê hương, làng xóm lên miền Tây Tuyên Hóa tham gia phong trào kháng chiến chống Pháp hết sức mạnh mẽ, sôi nổi. Ông sinh ra tại làng Tả Phan được gia đình cho ăn học đến nơi đến chốn và đã thi đỗ Tú tài nên người ta gọi ông là Tú Hy. Ông là một trong những người học giỏi nhất của làng Tả Phan nhưng vì mệnh nước lâm nguy nên ông phải cầm gươm xông pha chiến trận. Ông được vua Hàm Nghi phong làm Tán tướng quân vụ. Dưới quyền chỉ huy của tướng Hoàng Phúc, ông cùng với Đề Én, Đề Chít đã đem quân đánh tập kích hàng chục trận làm cho quân Pháp kinh hồn bạt vía, sợ nghĩa quân như sợ cọp. Nghĩa quân đi đến đâu giặc chết như rạ ở chỗ đó. Lối đánh giặc bất ngờ, táo bạo đã giành được chiến thắng giòn giã.Chọn những chỗ sơ hở hiểm yếu nhất của địch mà đánh. Một lần ông đem quân về định đánh úp thành Đồng Hới vì đã có một anh lính làm nội ứng mở cửa Thành. Việc bị bại lộ, anh lính ấy bị bắt nên không thực hiện được. Nghĩa quân đánh Thành không được, căm tức, lúc trở về triệt hạ một xóm đạo gọi là xóm Bùn ở gần cầu Ngắn, toàn dân theo đạo Thiên Chúa Giáo đã bị giết sạch.
Mặc dù vậy, phong trào Cần Vương vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ khắp các vùng từ rừng núi đến đồng bằng các huyện trong những năm đầu của cuộc kháng chiến. Trong thế cô lập bị bao vây, điều kiện của cuộc kháng chiến thiếu thốn mọi bề nên các cuộc chiến đấu của các đội quân Cần Vương ngày càng gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt, tên phản bội Trương Quang Ngọc hầu cận vua rất tận tình nhưng bị địch mua chuộc, dụ dỗ hắn đã dẫn đường cho địch đến bắt vua. Sau đó, không lâu tên phản bội này bị nghĩa quân bắt được chém đầu ngay tại trận. Đêm 01 tháng 11 năm 1888, được sự giúp đỡ của một số kỳ hào phản bội, thực dân Pháp đã đột nhập vào chỗ ở của vua Hàm Nghi và đã bắt vua giao nộp cho quân Pháp.
Sau khi vua Hàm Nghi bị bắt, cuộc kháng chiến dưới danh nghĩa Cần Vương dần dần đi vào thoái trào, nhưng ngọn lửa của lòng yêu nước, chí căm thù giặc vẫn âm ỉ cháy trong lòng nhân dân Quảng Bình.
Phong trào Cần Vương tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng là trang sử mở đầu cho cuộc kháng chiến suốt hơn một thế kỷ của nhân dân Quảng Bình cùng nhân dân cả nước chống thực dân, đế quốc quân xâm lược giành lại độc lập tự do cho dân tộc.
Phong trào Cần Vương thất bại, ông Tú Hy trở về làng nhưng khí thế chống giặc cứu nước vẫn sục sôi trong ông không bao giờ nguôi:
“Ông Tú Hy đã về làng,
Thanh gươm chống giặc còn mang bên người”.
Cuối cùng, ông vào Hạ Cờ, thuộc tỉnh Quảng Trị để dạy học. Học trò đến học với ông ngày càng đông. Một buổi sáng sớm mai, học trò đến học ngồi đợi thầy đã lâu mà không thấy thầy ra dạy. Học trò vào thức thì thầy đã quy tiên. Thật là một nhà Nho rất tâm huyết với non sông đất nước mong giải phóng dân tộc thoát khỏi ách ngoại xâm mà vẫn chưa thực hiện được thì ông đã qua đời một cách đột ngột. Học trò kéo đến rất đông xúm quanh giường ông nằm khóc lóc hết sức thảm thiết. Thương cho một ông thầy Đồ đã tận tụy với học trò và nặng tình với non sông đất nước đã ra đi một cách đột ngột với lòng tiếc thương vô hạn.
Làng Tả Phan còn có ông Phan Chúng là một chiến sĩ giao liên gan dạ, dũng cảm nhất vùng đất Ninh Châu. Nhà nghèo phải đi cày thuê cuốc mướn cho cường hào, địa chủ để kiếm đồng tiền bát gạo nuôi sống gia đình. Ông là một trong những người học giỏi của làng đã đỗ Diplôme thời Pháp thuộc còn gọi là Thành Chung tương đương với lớp 9 bây giờ. Sau này, ông đã trở thành một ông giáo dạy dỗ cho con em trong làng được bà con rất tin yêu và quý trọng. Ông đã từng chứng kiến cảnh bọn giặc tàn bạo, dã man. Mỗi lần đi càn là chúng bắn giết, đốt phá, cướp bóc làng bản, xóm thôn làm cho khung cảnh làng quê trở nên tiêu điều, xơ xác. Từ đó, ông đã có một lòng căm thù giặc hết sức sâu sắc. Ngoài 20 tuổi, ông đã giác ngộ cách mạng được trên giao cho làm liên lạc củng cố cơ sở cách mạng các xã Duy Ninh, Hàm Ninh. Đường dây liên lạc thường hoạt động vào ban đêm một cách bí mật. Nhiều lần ông mang tài liệu mật, đưa cán bộ vượt vòng vây quân thù lên chiến khu Rào Trù, ông đã mưu trí, dũng cảm thoát hiểm an toàn. Cơ sở được ông xây dựng ngày càng vững mạnh, hoạt động rất tốt.
Thời đó, giặc Pháp tăng cường lùng sục, càn quét các cơ sở kháng chiến. Bởi vậy, cứ mỗi buổi tối, ông phải vượt qua hàng chục cây số, len qua nhiều vành đai, đồn bốt của địch để đi vào cơ sở nắm tình hình của giặc. Nhiều lần bị giặc vây bắt, ông phải nấp dưới hầm bí mật, chờ tình hình lắng xuống mới trở về chiến khu báo cáo tình hình được. Sau hai phen bị giặc lùng bắt ông đã mưu trí, dũng cảm chạy thoát thân. Một lần ông đang hoạt động thì ông bị bọn Việt gian chỉ điểm. Đêm đó, gà gáy tàn canh, giặc đi lùng sục khắp nơi bắt được ông ở giữa đồng không mông quạnh. Thời gian ở trong tù, đã chịu bao nhiêu cực hình tra tấn của địch, nhưng ông vẫn luôn luôn giữ vững khí tiết của người cộng sản, bảo vệ cơ sở cách mạng.
Khi ra pháp trường, ông không hề run sợ trước mặt kẻ thù. Ông rất bình thản với tư thế hiên ngang, bất khuất. Khi kẻ thù bịt mắt ông, ông đã giật tấm băng đen quăng xuống đất.
Giây phút cuối cùng, ông dõng dạc hô to: “Đả đảo thực dân Pháp !
Hồ Chí Minh muôn năm ! Đảng Lao động Việt Nam muôn năm ! Việt Nam muôn năm ! Chí khí hiên ngang, bất khuất, lẫm liệt của ông Phan Chúng là một tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước học tập và noi theo.
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, người dân Tả Phan rào làng chiến đấu, đào trên 4.000m giao thông hào, trên 50 hầm bí mật và hầm chiến đấu. Có một đại đội dân quân 100 người, một tiểu đội cứu thương và trên 30 du kích trực chiến; mỗi hộ dân thường xuyên chuẩn bị lương thực đủ 10 ngày để đề phòng giặc Pháp càn quét dài ngày. Từ năm 1947 đến 1954, nhân dân thôn Tả Phan đã đánh thắng trên 10 trận càn của giặc Pháp. Mỗi lần giặc Pháp đi càn thường đi theo con đường từ Quốc lộ 1 rẻ vào làng Tả Phan bằng xe cơ giới và quân lính rầm rộ súng ống lăm lăm trong tay, lưỡi lê sáng quắc tiền hô hậu ủng cùng nhau lùng sục, cướp bóc, đốt phá, bắn giết hết sức dã man, tàn bạo. Dân làng kéo nhau bỏ chạy tán loạn, người thì tìm nơi ẩn núp dưới hầm, kẻ chạy ra ngoài đồng núp dưới ruộng lúa. Lúc bấy giờ, lúa là giống dài ngày, chứ không phải giống lúa ngắn ngày như bây giờ. Từ lúc trồng cho đến khi thu hoạch là 6 tháng, cây lúa cao khoảng 1 m. Rất thuận lợi cho con người ẩn nấp, chạy trốn. Những người chạy không kịp thì bị giặc nổ súng bắn đùng…đoàng máu loang đỏ đồng, đỏ xóm. Cái chết thật là thương tâm, tội nghiệp. Mỗi lần như vậy, là trung đội du kích đào công sự tổ chức đánh địch. Địch càng gây tội ác thì lòng căm thù của nhân dân càng sục sôi. Nhiều trận trung đội du kích chặn đánh bất ngờ làm cho địch không trở tay kịp, ngay từ khi chúng đặt chân vào đến đầu làng. Súng nhỏ súng to, lựu đạn bắt đầu dội lửa vào đầu thù một cách dữ dội làm cho chúng kinh hồn bạt vía tháo chạy tán loạn, không dám vào làng nữa.
Thằng bị thương, thằng thì chết nằm ngỗn ngang bên đường. Chúng quay đầu rút quân chạy về không dám đi càn nữa. Quân và dân làng Tả Phan đã giành chiến thắng một cách giòn giã.
Một lần, Đội du kích làng Tả Phan tập kích đồn Võ Xá. Đêm ấy, khoảng hơn 21 giờ, Đội du kích đã đột nhập, áp sát đồn Võ Xá. Cái đồn ấy được xây dựng hết sức kiên cố, phía ngoài là một vọng gác. Bên trong là một dãy nhà ở cho lính canh đồn. Xung quanh là hàng rào dây thép gai chằng chịt. Trong cùng là một lô cốt kiên cố có 4 lỗ châu mai hướng ra 4 phía. Súng trung liên và đại liên của địch sẵn sàng nhã đạn bất cứ lúc nào hễ có động. Đội du kích bò sát vào hàng rào mà địch vẫn không hay biết gì hết. Rồi rải rơm, cài bộc phá xung quanh hàng rào chờ lệnh tấn công. Bổng nhiên có lệnh tấn công lửa đỏ rực trời. Bom ba càng, bộc phá đồng loạt nổ đinh tai nhức óc chói sáng một góc trời. Rồi súng trường, lựu đạn nổ vang trời dậy đất. Dãy nhà canh của lính bị thiêu cháy trơ trọi lửa bóc lên ngút trời. Đứa chết, đứa bị thương kêu la inh ỏi. Lúc ấy, bọn lính ở trong lô cốt bắn ra như mưa. Nhưng Đội du kích của ta đã kịp rút lui một cách an toàn.
Trong những năm chống Mỹ, cứu nước thì có hàng chục thanh niên lên đường tòng quân hết sức sôi nổi. Các đội du kích và dân quân tự vệ được xây dựng mạnh mẽ, trang bị vũ khí ngày càng hiện đại. Mỗi lần giặc Mỹ bay vào ném bom cầu Dinh Thủy, chợ Hôm thì chúng bay rất thấp lượn đi lượn lại mấy vòng rồi mới ném bom. Lúc bấy giờ bên chợ Hôm vào năm 1972 có một đoàn xe vận tải của ta chở lương thực, vũ khí vào chiến trường miền Nam thấy ở chợ Hôm cây cối rậm rạp nên đoàn xe ghé vào ẩn trú. Vậy mà địch vẫn biết được tìm cách đánh bom khủng khiếp. Mỗi lần địch bắn phá là dân quân, du kích nhảy xuống chiến hào gương cao nồng súng trút lửa vào đầu thù. Súng nhỏ, súng to đồng loạt nổ đinh tai nhức óc vang dội cả một làng quê.
Những ngày chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, làng Tả Phan bị địch đánh phá rất ác liệt cả ngày lẫn đêm. Mọi hoạt động của nhân dân đều chuyển sang thời chiến. Trước tình hình mới, để đánh trả hành động xâm lược của địch, làng Tả Phan đã thành lập các đơn vị dân quân tự vệ sẵn sàng đánh trả địch bảo vệ xóm làng. Được sự quan tâm của huyện đội Quảng Ninh về việc huấn luyện chiến đấu, lại hăng hái tập luyện.
Trong những ngày chiến tranh ác liệt, làng Tả Phan không những “chiến đấu giỏi” mà còn “sản xuất giỏi”. Nhân dân ra sức thi đua lao động sản xuất trên đồng ruộng, lợi dụng những lúc địch không đánh phá, nhân dân vẫn ra đồng cày cấy. HTX động viên bà con áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đưa giống mới vào canh tác… Chính vì vậy, làng Tả Phan là một trong những địa phương đạt năng suất lúa 4,5 tấn/ha.
Đội du kích làng Tả Phan cùng với du kích xã Duy Ninh trực chiến bắn máy bay Mỹ bằng súng 12 ly 7. Trận địa đặt ngoài đồng làng Hiển Vinh có hàng phi lao bóng mát che chắn bao quanh. Thế trận đã bày sẵn chờ giặc tới. Một lần, lợi dụng đêm khuya, trời rét, một máy bay F.4H của địch địch từ hướng Đông bay vào trận địa. Chúng bay rất thấp hòng thoát khỏi sự phát hiện của ra-đa phòng không quân đội ta. Khi máy bay địch vào cách trận địa chừng 400 mét. Đội du kích trực chiến đã phát hiện và nhanh chóng vào tư thế sẵn sàng chiến đấu. Lúc địch bay vào đúng tầm súng 12 ly 7, trong trận đầu ra quân, Đội du kích đã bóp cò bắn bị thương một máy bay Mỹ. Bị trúng đạn, chiếc F.4H hoảng sợ vội vàng chạy ra biển. Như vậy, ngay sau khi thành lập, trong trận đầu nổ súng đối mặt với kẻ thù, Đội du kích đã lập công bắn bị thương một máy bay Mỹ.
Trong những năm chống Mỹ, bom đạn Mỹ đã đốt cháy, tàn phá 98 nhà dân, bình quân mỗi người dân Tả Phan phải “đội trên đầu” hơn một tấn bom đạn Mỹ. Qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, có đến 154 người dân thôn Tả Phan bị giặc giết hại, 25 người con hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và 54 thương, bệnh binh. Chính ngọn lửa cách mạng, truyền thống yêu nước là động lực mạnh mẽ để mỗi người dân, mỗi hộ dân thôn Tả Phan đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình, đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư; chung sức xây dựng nông thôn mới. Đúng như nhà thơ Cao Xuân Lộc đã viết rất xúc động:
“Ngày xưa chống Pháp kiên cường,
Bao nhiêu xác giặc vùi xương bên đường.
Làm nên chiến công phi thường,
Tả Phan anh dũng quật cường lưu danh.
Trải qua bao cuộc chiến tranh,
Đến thời đánh Mỹ lừng danh ngoan cường.
Thanh niên nô nức lên đường,
Đánh tan giặc Mỹ ngát hương thơm nồng.
Bắc Nam thống nhất non sông,
Việt Nam rực rỡ cờ hồng bay cao”.
10. Truyền thống hiếu học, thi cử đỗ đạt\
Trong lịch sử dân tộc, nhiều thế hệ người Tả Phan đã lập nên những “kỷ lục” hiếm thấy trong học hành, khoa cử như dòng họ Lê trong làng đã có mấy đời đỗ đạt cao, làm quan có công lớn với Triều Nguyễn.
Trước hết phải kể đến là ông Lê Văn Võ sinh ngày 20/3/1846, mất 11/7/1907 đậu Cử nhân được bổ làm quan Tri Phủ, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Hưng. Ông đỗ cử nhân vào lúc 29 tuổi. Ông là một vị quan thanh liêm, chính trực. Không chỉ là vị quan yêu nước, tận trung với vua mà còn là vị quan có tấm lòng thương dân. Một hôm, ông có việc đi qua một làng nọ chợt nghe thấy người đàn bà đang lớn tiếng chửi mất buồng chuối. Ông chợt nghĩ, lý dịch xưa nay không thấy ai để ý đến việc điều tra xét xử tội ăn cắp vặt nên tệ nạn này mới có cơ hoành hành. Nghĩ đoạn, ông tiến đến hỏi người đàn bà và phát hiện vết chặt trên cây chuối còn mới. Đoán biết là kẻ trộm chỉ ở quanh đây, ông liền gọi lý trưởng đến, ra lệnh tất cả người làng ra vét ao đình. Trong khi mọi người đang hì hục làm, ông bảo lý trưởng đi mua trầu cau, phát cho mọi người ăn trong lúc nghỉ giải lao. Sau đó, ông sai mọi người rửa tay thật sạch, lên sân đình ngồi nghỉ. Trong số các bàn tay đưa ra nhận trầu, Lê Văn Võ nhận thấy trên tay một người có vết bùn dù đã rửa, liền ra lệnh bắt ngay người đó. Quả nhiên đó là người ăn trộm chuối bởi nhựa chuối dính trên tay, ngâm xuống bùn thì dính bẩn và không thể rửa sạch ngay được. Chỉ qua vài câu xét hỏi, người này phải cúi đầu nhận tội, trả lại buồng chuối đã lấy và chịu nộp phạt trước dân làng.
Tiếp theo là ông Lê Kế Chi, còn có tên là Lê Văn Thuật sinh ngày 23/8/1875, mất 19/4/1950 đậu Cử nhân được bổ làm quan Tuần Phủ ở tỉnh Quảng Ngãi. Rồi ông được Triều đình phong hàng Tứ phẩm hay còn gọi là quan tư trong triều nhà Nguyễn. Sau đó, ông được Triều đình nhà Nguyễn điều về làm ở Bộ hình. Khi làm quan, ông có tiếng là vị quan đức độ, thanh liêm, chính trực. Vì thế mà khi hết quan trở về quê hương sinh sống thì gia đình ông vẫn sống trong cảnh nghèo khổ. Năm 1950, thực dân Pháp cho lính đi càn làng Tả Phan. Thấy ông có một tủ sách to tướng chúng nghi ông có liên quan đến Việt Minh nên lôi ra đánh đập hết sức dã man, tàn bạo. Sau trận đòn roi khủng khiếp ấy, ông ốm nặng mấy tháng sau rồi chết. Ông còn là một người đem cây dừa nước từ trong Huế về trồng phía sau Bung nơi có một cồn đất cao ráo, thoáng mát rất thích hợp cho cây dừa nước phát triển. Sau này, cây dừa nước phát triển thành một lùm cây to cao, rậm rạp làm cho cảnh quan làng Tả Phan ngày càng thêm tươi đẹp. Chim chóc kéo nhau về trú ngụ làm tổ ca hót véo von rất thích thú. Nhưng hiện nay lùm cây dừa nước ấy không còn nữa.
Ông Lê Văn Công sinh ngày 19/9/1818, mất 27/2/1861 đã thi đỗ Tú tài nên người ta gọi ông là Đồ Công. Ông trở về làng rồi đi làm một thầy đồ dạy học ở phương xa. Học trò đến học với ông rất đông. Ông là một nhà giáo rất nghiêm khắc với học trò. Ông không chỉ dạy chữ mà còn dạy nhân cách làm người cho học trò. Ông uốn nắn, rèn luyện từng ly từng tý cho học trò có ý thức viết chữ đẹp. Những bài giảng của ông không những có nội dung phong phú, sâu sắc mà còn rất hấp dẫn, cuốt hút, tạo niềm say mê đối với học trò. Ông luôn muốn truyền đạt cho học trò một tinh thần yêu nước sâu sắc, sẵn sàng đứng lên để giải phóng dân tộc thoát khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp.
Ông Lê Văn Toản sinh ngày 04/4/1840, mất 14/4/1912 thọ 72 tuổi. Ông đỗ tú tài vào năm 1908 (Mậu Thân) lúc đó ông đã 68 tuổi. Trước đó, ông đi dạy học, học trò đến học với ông rất đông. Trong quá trình dạy học ông truyền cho học trò của mình lòng yêu nước thương dân hết sức cao cả. Ông nói với học trò của mình là nước ta là một nước thuộc địa của thực dân Pháp chưa giành được độc lập, tự do nên các con phải cố học hành tiến bộ để tiến tới giải phóng dân tộc thoát khỏi họa ngoại xâm. Ông được bổ làm quan cho đến khi già rồi mất.
Ông Lê Văn Quang đã thi đỗ Tú tài nhưng trong Gia phả không ghi rõ năm sinh và năm mất. Chỉ biết ông đỗ Tú tài rồi đi dạy học được một thời gian. Sau đó, bị bệnh nặng rồi mất.
Ông Lê Bá Hy sinh ngày 08/7/1852, mất 10/9/1903 thọ 52 tuổi. Ông thi đỗ Tú tài năm Kỷ Mão niên hiệu Tứ Đức thứ 32. Ông là một người rất ghét đạo Thiên chúa giáo và rất ghét thực dân Pháp. Khi nghe tin vua Hàm Nghi kêu gọi tham gia phong trào Cần Vương, ông Lê Bá Hy đã sẵn sàng lên đường xông pha giết giặc hết sức nhiệt tình, sôi nổi. Ông được vua Hàm Nghi phong làm tán tướng quân vụ trong kháng chiến chống Pháp. Ông đã tổ chức được nhiều cuộc tấn công lớn, nhỏ, đánh tập kích vào đồn bốt địch, bắt giết lũ tay sai bán nước. Nhưng sau khi vua Hàm Nghi bị bắt nghĩa quân tan rã nhanh chóng. Ông trở về làng rồi đi làm một thầy đồ dạy học ở tận Hạ Cờ. Thông qua bài dạy ông truyền cho học trò một tinh thần yêu nước thương dân cao cả. Ông mong học trò nhìn thấy vận nước nguy nan mà đứng lên đánh giặc cứu nước.
Ông Lê Trọng Kháng đã thi đỗ Tú tài thời Pháp thuộc. Ông được Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bổ nhiệm làm Chánh tòa kinh tế tỉnh Quảng Bình năm 1946. Ông là một trong những Chánh án xét xử rất công minh, chính trực. Nhiều người dân khiếu nại bức xúc, được ông mời lên gặp Chánh án để trình bày. Qua đó, họ có thêm niềm tin tưởng và yên tâm trở về chờ kết quả giải quyết, không ăn đợi nằm chờ tại Tòa án một cách mệt mỏi và gây phiền phức cho Tòa án. Những buổi Chánh án tiếp dân như thế bao giờ cũng có cán bộ chuyên môn ngồi cùng, nên nhiều vụ được giải quyết nhanh chóng. Nền nếp Chánh án tiếp công dân có từ thời Chánh án Lê Trọng Kháng, sau này vẫn được duy trì. Sau khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta lần thứ 2 thì ông đã cùng với toàn bộ Chính quyền rút lên chiến khu Rào Trù để hoạt động bảo toàn lực lượng.
Thực dân Pháp quyết tâm đánh chiếm, triệt phá chiến khu Rào Trù, là nơi đóng quân tạm trú của một số trụ sở cơ quan tỉnh Quảng Bình. Ngày 24-7-1947, lính lê dương ở hai đồn Xuân Dục, Vạn Xuân chia làm hai hướng tấn công chiến khu Rào Trù. Quân Pháp đã đốt kho lương thực của ta, dùng súng bắn vào bệnh viện giết chết 25 người gồm cán bộ, chiến sỹ, bệnh nhân, y tá, hộ lý. Sau khi tàn sát bệnh viện, địch tiếp tục đánh vào vọng gác công an cướp đi một số tài liệu quan trọng của tỉnh. Biết được hướng địch rút lui của địch, lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Bình cài bom ở Bãi Bưởi, bom nổ làm chết 14 tên và làm bị thương 20 tên khác. Sau trận đánh này, lính Pháp rất hoảng sợ mỗi lần tiến quân lên chiến khu Rào Trù. Sau một thời gian ông lâm bệnh nặng rồi chết ở trên chiến khu Rào Trù.
Ông Lê Văn Hách đỗ Diplôme thời Pháp thuộc còn gọi là Thành Chung tương đương với lớp 9 bây giờ.Ông là một nhà thơ, nhà văn đã sáng tác rất nhiều thơ ca với trên 4000 câu thơ. Ông còn là một dịch giả đã từng dịch thơ chữ Hán ra tiếng Việt, dịch các tài liệu bằng tiếng Pháp ra tiếng Việt. Rồi ông dịch ra tiếng Việt một số văn bia trong các đền đài, lăng tẩm ngày xưa. Những câu thơ của ông rất xúc động khi viết về quê hương đất nước. Hầu hết, các tác phẩm thơ văn của ông đều thể hiện tư tưởng yêu nước thương dân vô bờ bến và khát vọng về một cuộc sống bình dị, hướng tới những giá trị tốt đẹp của cuộc sống.
Sau này, con cháu trong làng vẫn tiếp tục nối tiếp truyền thống học hành của cha ông đã có các học vị thạc sĩ, tiến sĩ làm rạng danh cho quê hương xứ sở thân yêu. Nếu tính các học vị thạc sĩ, tiến sĩ thì làng Tả Phan đã có trên một chục người. Toàn là những người có gốc gác ở làng nhưng đều đi làm ăn xa xứ. Còn cử nhân gần 100 người, hiện đang nắm giữ các chức vụ lãnh đạo chủ chốt trong các cơ quan, doanh nghiệp của Nhà nước.
Tả Phan cũng là mảnh đất của truyền thống yêu nước, hiếu học, của ý chí tiến thủ để vượt qua mọi khó khăn của thiên nhiên, thời cuộc. Từ trong khó khăn gian khổ đã sinh ra người Tả Phan với đức tính cần cù, nhẫn nại, chịu thương chịu khó, biết lấy sự học làm con đường khai sáng. Chính truyền thống hiếu học, lòng khát khao học tập đã đánh dấu bằng việc hình thành làng khoa bảng nổi tiếng ở đất Quảng Bình.
Với triết lý “Uống nước nhớ nguồn”, các thế hệ người dân làng Tả Phan hôm nay vẫn luôn biết ơn những đóng góp mà các bậc danh nhân đã làm cho mảnh đất này. Qua đó, giáo dục những truyền thống tốt đẹp của quê hương, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, phát huy các giá trị tốt đẹp, xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh.
11. Nạn sưu cao thuế nặng
Thuế thân, thuế lao dịch và thuế ruộng đất là hai thứ thuế có chủ yếu dưới thời phong kiến. Sau khi xâm lược và đặt được bộ máy cai trị lên đất nước Việt Nam, thực dân Pháp đã tận dụng triệt để hai thứ thuế này và áp đặt lên một phương thức thu mới với tính chất áp đặt và tận thu làm thay đổi hoàn toàn về bản chất so với thời phong kiến.
Thời phong kiến (Triều Nguyễn), nông dân nộp thuế bằng hiện vật là chủ yếu. Điều đó giúp cho triều đình đảm bảo cho các chi phí, đồng thời còn có một lượng thóc gạo dự trữ. Về cách thu thuế, triều đình không trực tiếp thu mà phân bổ cho từng làng, xã. Sau đó, làng, xã sẽ tự phân bổ cho dân đinh nội tịch. Mức thuế không phải do triều đình ấn định mà do thương lượng giữa các làng với các đại diện của triều đình.
Đến thời Pháp thuộc, thực dân Pháp giữ nguyên bộ máy quan lại thời phong kiến ở các làng xã và tận dụng triệt để hai loại thuế chính là thuế ruộng đất và thuế thân, đều là loại thuế trực thu nhưng với phương thức khác mang tính áp đặt, mở rộng đối tượng thu, tăng loại tiền thu.
Để kiểm soát việc đóng thuế thân, chính quyền thuộc địa đã cấp thẻ thuế thân cho dân đinh sau khi nộp đủ thuế. Dân đinh mang theo người và xuất trình khi cần thiết. Nếu họ bị kiểm tra không có thẻ, họ có thể bị bắt giam. Người bị mất thẻ xin cấp lại phải nộp bằng khoản tiền thuế. Việc dùng thẻ đã trở thành một hệ thống kiểm soát chặt chẽ việc thu thuế thân và quản lý nhân lực dưới thời thực dân, phong kiến. Thực dân Pháp duy trì và lợi dụng giai cấp phong kiến vì mục đích bóc lột lợi nhuận kinh tế ở nông thôn. Còn giai cấp phong kiến Việt Nam lại dựa vào thực dân Pháp để vơ vét cho bản thân. Trên thực tế, người dân vừa phải nộp thuế của nhà nước, vừa phải nộp những khoản phụ thu của chính quyền phong kiến địa phương. Vì vậy, mức thực nộp thuế của nhân dân dưới thời Pháp thuộc là rất nặng nề. Chính sách thuế và cách thu thuế thực dân Pháp càng đẩy nhanh quá trình phân hoá giầu nghèo, làm tăng mâu thuẫn trong xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam.
Bọn quan lại, địa chủ, cường hào gian ác ngày càng giàu lên nhanh chống. Còn người dân khốn khổ trăm bề, chịu nhiều cảnh áp bức bóc lột hết sức thậm tệ. Chính vì thế mà nhà thơ Lê Văn Hách đã nói về điều đó một cách cay đắng xót xa:
“Sự đời nghĩ đến mà đau,
Người nghèo kiết xác, kẻ giàu giàu thêm”.
Mùa sưu đến, dân làng nơm nớp, lo âu, sợ hãi phải chạy vạy khắp nơi vay tiền để nộp thuế cho chồng, cho con nhưng không kiếm đâu ra tiền. Có người sợ quá giả vờ ốm nhưng vẫn không thoát được bị bọn cai lệ cùm kẹp lôi ra đánh đập, tra khảo hết sức dã man, tàn bạo rồi giam ở đình làng. Cuối cùng có được cái gì trong nhà bán được là đưa ra chợ bán để có tiền nộp thuế.Nhưng vẫn không đủ liền bán trâu, bán ruộng với cái giá rẻ mạt cho địa chủ. Thế là lâm vào cảnh nghèo khổ, túng thiếu phải đi làm thuê cuốc mướn rồi lại cho con đi ở đợ sống khắc khoải, lay lắt qua ngày đoạn tháng.
Không có gì khổ sở bằng cái cảnh thuế thúc trống dồn:
“Nửa đêm thuế thúc trống dồn,
Sân đình máu chảy đường thôn lính đầy” (Tố Hữu).
Với nạn sưu cao thuế nặng đánh vào đầu mỗi người dân lương thiện nên dân làng Tả Phan phải bị đọa đày, lưu lạc khắp nơi, mỗi người một phương để kiếm sống lay lắt qua ngày. Người kéo nhau qua Lào buôn bán làm ăn, kẻ đi lên miền núi bán buôn đổi chác với đồng bào dân tộc. Rồi tìm mua những đồng bạc trắng đem qua Lào bán rất đắt. Dân Lào họ rất quý những đồng bạc trắng để làm sính lễ cho con trong ngày cưới. Cứ trao qua đổi lại như vậy mà kiếm được một ít tiền đem về để nộp thuế. Còn lên miền núi cũng đem muối, mâm đồng, chậu thau, lư hương, lọ lộc bình bán cho đồng bào dân tộc thì họ rất thích.Rồi mang về gạo, khoai, sắn đem ra chợ bán lấy tiền đóng thuế.
12. Nạn đói 1945 ở một làng quê
Tết Nguyên đán Ất Dậu (1945), thảm kịch đã hiện ra trước mắt. Hơn 90% số gia đình trong làng không có bánh chưng, thịt mỡ, trong đó nhiều nhà không có cả cơm ăn. Làng xóm xác xơ, tiêu điều. Sau tết vài ba ngày, trong làng bắt đầu có người chết đói. Giá gạo lên nhanh, chưa quá nửa phiên chợ không còn một hạt gạo nào để bán. Các cửa hàng gạo, ngô đều nhất loạt đóng cửa, vì không có cái để bán. Người mua gạo chỉ trông chờ vào những bơ gạo lẻ của một số gia đình bớt ăn, bán để mua đồ đạc, ruộng vườn của một số người nghèo, hoặc gạo, thóc của một số nhà giàu bán để lấy tiền tậu ruộng. Rau màu ăn sạch; lợn gà, ngan ngỗng không còn bóng dáng, vì không có gì để nuôi. Trâu, bò bán cả con với giá quá rẻ, người ta mổ thịt ăn thay cơm. Những gia đình khá giả trong làng thì bữa sáng phải định suất một tô cháo loãng, trưa một bát cơm, tối cũng chỉ một bát cơm. Cảnh người chết đói bắt đầu diễn ra.
Người chết đói càng về sau càng nhiều. Những người còn sống tìm mọi thứ có thể ăn được để ăn cắp. Trước hết là những hạt thóc lép, mầm hạt bị teo lại trong vỏ trấu, được sàng sảy ra để cho vào bếp lò, hay quẳng cho gà, vịt nhặt. Lúc này người ta đem rang vàng, giã nhỏ, cho thêm vài hạt muối để làm món ăn. Cũng có thơm mùi gạo rang, nhưng quá nhiều bột trấu nên rất khó nuốt. Được cái no lâu vì khó tiêu. Nhưng đấy là món của những gia đình trung nông lúc đó mới có. Còn bần nông, cố nông thì dường như chỉ ăn rau và củ chuối. Họ ăn đến cả những cây giống mới trồng như: dây khoai lang, mầm cây dong riềng. Cứ có được những thức đó là băm nhỏ nấu lên. Nhà nào còn chút ít gạo, cám thì cho vào một nắm. Gọi đó là cháo rau thì quá sang, gọi là canh rau cũng chẳng phải. Món củ chuối lẫn thân cây băm nhỏ, luộc thay nước vài lần cho đỡ chát, thêm nhúm muối trở thành bữa ăn chính. Thân cây đu đủ băm nhỏ, luộc chín, thêm nhúm muối cũng trở thành món nộm ăn trừ bữa.
Rồi đến món củ nâu. Củ nâu là một dạng củ ở trên rừng, bổ ra như củ khoai mỡ, màu nâu, lắm nhựa, chát thắt cuống họng thường được giã nhỏ ngâm nước nhuộm vải, hoặc xảm thuyền. Để ăn được, sau khi giã, người ta đem ngâm ở ao hồ cho đến khi có mùi thum thủm, vớt lên luộc bỏ nước 5 đến 6 lần. Sau đó cho vào chõ, thêm nắm cám, nắm tấm đồ lên để ăn. Khi ăn vẫn phải chiêu nước vì chát.
Đã đói cơm, đói rau lại nhạt muối. Những thứ “thực đơn” kể trên nếu có nhúm muối cũng dễ nuốt. Nhưng khốn nỗi, không hiểu sao muối cũng bị cấm, đắt hơn gạo nhiều lần. Nhiều nhà phải lấy tro bếp, nền đất nhà bếp, vốn tích lũy chất mặn trào ra trong quá trình nấu ăn, hòa nước, chắt lấy chất mặn để cho vào rau, cháo.
Trên đường đi học, ngày nào cũng thấy người chết đói giữa đường. Thân hình họ tiều tụy đến mức nhìn không biết là đàn ông hay đàn bà. Có người còn rách hết quần áo, tóp teo lại, hoặc phù thũng trương lên. Những người chết đói ban đầu còn được bó chiếu đem chôn. Ban đầu, gia đình họ hàng đi chôn, còn đào huyệt trong bãi tha ma, sau đói quá, lợi dụng các hố bốc mộ chưa lấp, vùi người chết xuống đấy. Về sau, người sống cũng đuối sức, thì người chết ở đâu thì chôn luôn ở đấy. Vệ đường, ngòi, rãnh đầy những ngôi mộ đắp điếm qua loa, mùi xú uế bao trùm làng xóm.
Cuối tháng 3 Ất Dậu, một số hoa màu sống sót nhờ công canh gác của chủ ruộng đã bắt đầu có thu hoạch non. Khoai lang củ bằng chiếc đũa, ngô trổ cờ ngậm sữa. Củ khoai, rễ cám đổ vào nồi nấu chung. Để chia đều phải dùng đũa cả xéo nhuyễn, rồi đơm ra bát. Thân và lá khoai lang đương nhiên phải dành cho những bà con đói hơn.
Lúa chiêm năm Ất Dậu (1945) rất tốt. Người ta nói là nhờ hơi người chết. Nhưng có lẽ vì sạch bách chuột bọ, côn trùng. Chỉ phải cái thu hoạch quá muộn. Đầu tháng 4 âm lịch, thấy lúa chiêm đã ngậm sữa, một số người quá đói bò ra ruộng, bóc đòng lúa ăn ngấu nghiến. Có người gục chết tại ruộng. Ít lâu sau, lúa đặc sữa, các nhà khá giả cũng không đợi được, gặt về, đập xong phải luộc cho lúa đặc lại rồi mới phơi hoặc rang để thổi cơm.
Đói quá, có cơm một số người ăn no, cũng lăn ra chết… làng Tả Phan chết khoảng gần một chục người. Cái chết hết sức thương tâm. Đúng như nhà thơ Lê Văn Hách đã viết hết sức nghẹn ngào, xúc động:
“Xác người nằm ở bến sông,
Xác người nằm ở cánh đồng bụi mương.
Xác người nằm ở bên đường,
Ngắc ngư thoi thóp vô phương sống còn”.
Nguyên nhân chủ yếu của nạn đói này là do quân phiệt Nhật câu kết với thực dân Pháp thực hiện một âm mưu thâm độc vơ vét hết lương thực cất vào kho. Rồi chúng bắt dân nhổ lúa trồng đay, cấm vận không cho chuyển thóc gạo từ các tỉnh phía Nam ra, cộng với thiên tai mất mùa đói kém. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra mắt quốc dân đồng bào. Một ngày sau đó, ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chính phủ họp phiên đầu tiên. Một trong những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ là cứu đói để vực dậy một dân tộc đã và đang trải qua nạn đói kinh hoàng.
Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn áp dụng ngay một số biện pháp cụ thể như cho phép vận chuyển thóc gạo; nghiêm trị những kẻ đầu cơ, tích trữ thóc gạo; cấm dùng gạo vào những công việc chưa thật sự cần thiết như nấu rượu, làm bánh; cấm xuất khẩu gạo, ngô, đậu; cử một ủy ban có nhiệm vụ lo việc vận chuyển gạo từ miền Nam ra miền Bắc. Với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, phong trào tăng gia sản xuất đã thu được kết quả to lớn. Sản xuất nông nghiệp nhanh chóng được khôi phục, nạn đói được đẩy lùi, đời sống của nhân dân, đặc biệt là nông dân dần ổn định.
13. Xây dựng làng văn hóa
Toàn thôn hiện có trên 350 hộ với hơn 1.500 khẩu. Tổng diện tích tự nhiên của thôn 144,2 ha; trong đó diện tích nông nghiệp chiếm 106,2 ha, diện tích lúa 2 vụ chiếm 90 ha; đời sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp độc canh cây lúa và một số ngành nghề dịch vụ nhỏ lẻ.
Ngày xưa, diện tích tự nhiên của thôn Tả Phan còn lớn hơn thế rất nhiều. Nếu tính cả ruộng ở Bàu Con đã bàn giao cho thôn Hữu Phan là 10 ha. Vì bắt đầu từ năm 1964, toàn huyện tập trung đào con kênh Duy Hàm để lấy nước tưới tiêu cho đồng ruộng làm lúa hai vụ. Nhưng việc đào con kênh ấy không phát huy được hiệu quả vì không đủ nước để tưới cho ruộng hai vụ. Cuối cùng, phải bỏ hoang, tiêu tốn không biết bao nhiêu công sức và tiền của nhân dân. Đã vậy rồi làng Tả Phan phải bị mất ruộng. Rồi còn 20 ha ruộng ở ngoài Kho gần nhà ông Nận, hồi đó do họ Cao khai hoang canh tác.Sau này, sát nhập HTX bậc cao Phan Hiển thì Ban Chủ Nhiệm hợp tác lại bàn giao cho làng Hiển Lộc sử dụng. Dân làng Tả Phan mất trắng 20 ha ruộng tốt màu mỡ. Như vậy, cộng Tổng diện tích tự nhiên của thôn Tả Phan là 174,2 ha.
Những năm qua, quy chế dân chủ ở cơ sở nơi đây thực hiện tốt, phát huy được sức mạnh của toàn dân. Cán bộ, đảng viên, nhân dân thôn Tả Phan đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, chăm lo phát triển kinh tế và xây dựng đời sống văn hóa; làng xóm ngày một đổi thay, phát triển.
Vụ hè thu năm 2005, hạn hán khô đồng cỏ cháy, 67 ha lúa trên cánh đồng Tả Phan chỉ chờ chịu cháy; ấy vậy mà cấp ủy Đảng, chính quyền thôn cùng HTX dịch vụ nông nghiệp họp bàn với dân hiến kế làm sao có nước. Sáng kiến khoan giếng giữa đồng để cứu lúa đã được triển khai. Mỗi cái giếng khoan sâu khoảng từ 9 m đến 12 m là có nước ngọt tràn đầy. Thế là 67 ha lúa được cứu sống, cuối vụ cho năng suất bình quân 45 tạ/ha. Trong sản xuất nông nghiệp, bà con nông dân tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đưa các bộ giống có năng suất, chất lượng vào sản xuất và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nên hiệu quả kinh tế cao. Năng suất lúa 2 vụ của năm 2010 bình quân đạt 48 tạ/ha, năm 2011 đạt 54 tạ/ha và đến năm 2012 năng suất bình quân lên đến 58,7 tạ/ha. Ngoài sản xuất lúa, mấy năm qua, thôn Tả Phan đã có các hộ như gia đình anh Trần Văn Doãn, bác Lê Văn Dinh, bác Lê Văn Tấn đã mạnh dạn đấu thầu 11 ha hồ, ao ở vùng đồng Bệ phát triển mô hình trang trại tổng hợp, nuôi lợn, gà, vịt, ngan và cá- lúa cho thu nhập cao. Ba năm lại đây anh Trần Quốc Tuấn mua 5 máy cày và 2 máy gặt đập liên hợp, mỗi mùa vụ tạo việc làm thường xuyên cho 20 lao động. Hiện nay, thôn Tả Phan không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 19% năm 2010 xuống còn 15% năm 2012.
Đời sống người dân ngày càng ổn định, nhân dân càng nhận thức cao về việc chăm lo, nuôi dạy con cái, sinh đẻ có kế hoạch. Nếu như năm 2010, thôn Tả Phan có một trường hợp sinh con thứ 3 thì đến hai năm 2011 và 2012 thôn không còn trường hợp nào sinh con thứ 3. Con em đến trường đến lớp đầy đủ, không còn tình trạng học sinh bỏ học. Hoạt động của chi hội khuyến học thôn cùng với 5 dòng họ khuyến học, dòng họ hiếu học thực sự là động lực tác động, động viên con em đi học chuyên cần, chăm lo rèn luyện, tu dưỡng đạo đức và phấn đấu học giỏi.
Trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, 3 năm qua, thôn Tả Phan đã làm được một việc mà các thôn trong xã chưa thôn nào làm được; đó là, mỗi khi trong thôn có người qua đời, gia đình người quá cố không còn chuyện tổ chức ăn uống phiền hà như trước đây; thôn tổ chức Ban lễ tang và một đội âm công để đưa tiễn người quá cố về nơi yên nghỉ, gia đình chỉ chi phí 1,5 triệu đồng. Cùng với việc thực hiện tang lễ, cưới hỏi theo nếp sống mới, hương ước của làng cũng quy định nhiều điều khoản mà mọi người dân, mọi gia đình đều đồng thuận, tự giác thực hiện như các khoản đóng góp xây dựng làng, quỹ vì người nghèo, quỹ từ thiện, quỹ khuyến học, thu gom rác thải… Mấy năm trở lại đây, vào buổi tối hàng ngày, trong các xóm, các cụm dân cư, bà con quây quần hát ca. Các đội văn nghệ của các xóm, của Hội người cao tuổi, chi hội phụ nữ, đoàn thanh niên, học sinh thường xuyên tập luyện múa, hát, hoạt cảnh dân ca, thu hút nhiều người tham gia, cổ vũ, tạo cho không khí làng xóm vui tươi, lành mạnh.
Điều đáng ghi nhận là từ những năm 60 của thập kỷ trước, làng Tả Phan đã có phong trào tập luyện bóng chuyền. Phải nói rằng, chơi bóng chuyền là “món ăn tinh thần” không thể thiếu được của người dân nơi đây. Cho đến nay, vào các buổi chiều hàng ngày, tại 2 sân bóng chuyền nam, bóng chuyền nữ, mọi người đến tập luyện. Cùng với đó, trên 8 năm nay, câu lạc bộ cầu lông gồm 16 thành viên do hai bác Lê Tiến Dũng và Lê Văn Nghệ thành lập luôn duy trì hoạt động. Vào các buổi sáng, các cụ người cao tuổi, chị em phụ nữ, các CCB đi bộ và thể dục dưỡng sinh đã trở thành phong trào và ngày càng thu hút nhiều người tham gia. Hàng năm, vào dịp lễ Quốc khánh 2/9 và Tết Nguyên đán, làng tổ chức liên hoan văn nghệ, thi đấu bóng chuyền, cầu lông, kéo co, đua thuyền giữa 3 xóm, giữa các tổ chức đoàn thể, tạo nên một truyền thống văn hóa ở một làng quê.
Gần 500 năm thành lập làng, thế hệ con cháu làng Tả Phan hiện nay luôn thiện tâm, trọn đạo hiếu với bao lớp người đi trước, giữ vững ý thức xây dựng gia đình và xây dựng làng, xã. Nếp sống văn hóa, tình làng nghĩa xóm, ý thức cộng đồng dân cư nơi mãnh đất này đã có trong máu thịt của người dân. So với thế hệ các bậc tiền nhân, làng Tả Phan hôm nay cư dân trù mật, làng xóm sum vầy, các cụm dân cư được sắp xếp ở theo ô bàn cờ trông thật đẹp mắt và ngày càng có nhiều nhà cao tầng được xây mới, khang trang. 100% hộ dân sử dụng điện, 100% hộ dân có phương tiện nghe, nhìn, 100% hộ dân dùng nước sạch, 85% đường làng, ngõ xóm được bê tông sạch, đẹp… Hai năm qua, phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” được cán bộ, nhân dân thôn Tả Phan đón nhận tích cực, người dân nhận thức được lợi ích của xây dựng nông thôn mới. Năm 2012, nhân dân các xóm tự nguyện hiến 2.600 m2 đất 64 và 1.200 m2 đất đấu thầu, 500 m2 đất thổ cư, trên 340 cây các loại, trên 1.000 công lao động để mở 3 tuyến đường giữa 3 xóm dài 1.300 m, rộng từ 6 m đến 7 m. Mặt khác, chính quyền thôn kết hợp chi đoàn thanh niên đầu tư lắp 21 bóng đèn đường, đêm đêm thắp sáng đường làng, ngõ xóm.
Ở xã Duy Ninh, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã làm thay đổi diện mạo và góp phần phát triển kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của người dân các thôn; trong đó, thôn Tả Phan thực sự là điểm sáng, được UBND huyện Quảng Ninh công nhận thôn văn hóa giai đoạn 2010 – 2012.
Chính vì thế, đời sống của nhân dân trong thôn qua 3 năm có sự chuyển biến rõ rệt, năm 2015 tăng hơn 2 năm trước 25%, mức thu nhập bình quân đầu người từ 550.000 đ/tháng đến 700.000 đ/tháng; hộ nghèo giảm 15% qua hàng năm. Đến cuối năm 2015, tỷ lệ hộ khá và giàu chiếm trên 56%, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn dưới 5%; 100% số hộ trong toàn thôn sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh.
Phong trào văn nghệ, thể dục thể thao của thôn luôn được cấp ủy, chính quyền thôn quan tâm. Trong đó, các hoạt động vui chơi nhân các ngày lễ hội, tết cổ truyền được tổ chức đều đặn; Lễ hội đua thuyền truyền thống hàng năm trên rào Bậc Lẹc vào dịp Quốc khánh 2-9 được duy trì. Nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang được người dân ý thức chấp hành thực hiện tốt. Phong trào khuyến học khuyến tài được chú trọng, toàn thôn hiện không có em nào bỏ học. Mặt khác, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền vận động trong thực hiện kế hoạch hóa gia đình nên trong 3 năm qua, Tả Phan không có người vi phạm chính sách dân số về sinh con thứ 3.
Hưởng ứng tích cực phong trào xây dựng nông thôn mới, nhân dân Tả Phan tích cực hiến đất, hiến cây, hiến tài sản trên đất… để làm đường giao thông. Toàn thôn đã bê tông hóa được 6.000m đường giao thông nông thôn; mở rộng, nâng cấp và làm mới gần 2.000m đường giao thông nội đồng; tu bổ, làm mới hệ thống điện thắp sáng đường quê…
Trước nhu cầu sinh hoạt văn hóa ngày càng cao của người dân và để góp phần thắt chặt thêm mối quan hệ đoàn kết, tình làng, nghĩa xóm trong cộng đồng dân cư, Tả Phan đã vận động nhân dân trên địa bàn và con em xa quê xây dựng, đưa vào sử dụng nhà văn hóa mới trên diện tích 200 m2, đầy đủ tiện nghi với tổng trị giá 980 triệu đồng.
Công tác giữ gìn an ninh và vệ sinh môi trường ở Tả Phan luôn được chú trọng và bảo đảm. Tất cả các việc trong thôn được bàn bạc dân chủ. Đặc biệt thôn đã chọn lọc xây dựng một bản hương ước quy định cụ thể các mặt sinh hoạt đời sống cộng đồng, người dân luôn lấy hương ước làm tiêu chí để thực hiện. Các phong trào thi đua của các đoàn thể Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên… trong thôn luôn được đẩy mạnh.
Đạt được những kết quả đó, bài học thành công đầu tiên của Tả Phan là vai trò lãnh đạo của cấp uỷ, chi bộ tạo được sức mạnh tổng hợp để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ đề ra. Trong mọi hoạt động, cán bộ, đảng viên luôn là những người gương mẫu, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, tạo được sự đồng thuận và tin tưởng của người dân.
Với quyết tâm của chi bộ, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, sự đoàn kết bà con trong thôn cùng với sự hậu thuẫn góp sức của con em xa quê, các thiết chế văn hoá, công trình dân sinh tiếp tục được tu bổ, dựng xây, chắc chắn Tả Phan giữ vững danh hiệu làng văn hoá và sẽ ngày càng tiến bộ.
Tôi viết cuốn sách này như là một món quà quý giá tặng cho bà con làng Tả Phan thân yêu. Nếu có gì còn thiếu sót mong các bạn hãy nhiệt tình góp ý một cách chân thực và thẳng thắn để những lần xuất bản sau được chỉnh sửa cẩn thận hơn.
Rất trân trọng cảm ơn !
CAO XUÂN XẢO